Từ huyền sử đến sự thật

Trần Thị Vĩnh-Tường

Hơn 4000 năm, huyền sử lặng lẽ trôi đi dưới đôi bờ thời gian. Những nhân vật hết sức mờ ảo chỉ đến với nhân gian một lần, rồi biến mất tựa như Lưu Nguyễn quên trần hoàn.

Huyền sử là gì?


Người Hy Lạp hãnh diện về Hélène thành Troie, thương cảm cho định mệnh của giai nhân. Thế giới ngưỡng mộ Cléopatre qua khuôn mặt diễm lệ của Liz Taylor, tin chắc rằng “nếu mũi nàng chỉ ngắn một chút xíu, cả thế giới đã thay đổi.” Huyền thoại trong Cựu Ước cho Moses rẽ biển Hồng Hải, cứu dân Do Thái thoát vòng nô lệ. Như C.S Lewis (1898-1963) nhận xét “Huyền thoại là một thể loại nghệ thuật rất khác với văn học”. Dù không hội được những điều kiên của sử học, huyền sử/huyền thoại/truyền thuyết vẫn có giá trị: ghi nhận và chuyên chở một phần sự thật của quá khứ, thổi vào quá khứ ấy một linh hồn riêng của mỗi tộc người.

Đằng khác, huyền sử luôn ở một đầu đối chọi với sử học. Một đằng dựa vào cổ tích truyền miệng, văn hóa dân gian, không gian huyền ảo, siêu nhân vật thần thánh. Một đằng dựa vào những giá trị có thể kiểm chứng được: ở đâu/cái gì/tại sao/thế nào/bao giờ. Nhưng cũng theo phương pháp sử hoc, một sự kiện sai vẫn là một sụ kiện và vẫn có thể dùng như tia phản hồi giúp cho sự kiện đúng được lộ ra ngoài ánh sáng. Ví dụ: lý do người Mỹ dựng lên vụ tàu Maddox 1963 để có cớ tấn công vào vịnh Bắc Việt là một sự kiện ảo (1), nhưng hậu quả của việc này lại là một biến cố lịch sử làm thay đổi vận mệnh của cả dân tộc VN. In hệt như vụ Irak với “sự kiện ảo”: Saddam Hussein sở hữu vũ khí tàn sát tập thể. Năm 1979, Trung Quốc lấy cớ “bênh vực Hoa Kiều ở VN, để dậy cho VN một bài học” chỉ là cái vỏ bên ngoài. Nhưng trận chiến kinh hoàng gây tổn thất nhân mạng và tài sản cho cả hai bên ở biên giới Việt-Hoa, là một sự kiện lịch sử.

Vì vậy, câu hỏi “truyền thuyết Hồng Bàng có thật không” nên đổi lại “truyền thuyết có ý nghĩa gì”.

Truyền thuyết Hồng Bàng có tự khi nào?


Đại Việt sử ký, bộ quốc sử đầu tiên của Việt Nam, do Lê Văn Hưu (1230-1322) soạn năm 1272 không có truyền thuyết Hồng Bàng.

Lĩnh Nam Chích Quái, chuyện cổ tích và truyền thuyết.do nhiều thế hệ soạn giả soạn. Có đến 9 bản LNCQ chép tay, mỗi bản thêm/bớt một số chuyện. Cuối thế kỷ 15, Vũ Quỳnh và Kiều Phú nhuận sắc thêm “ghi chép những chuyện kỳ lạ thu ghép lượm lặt được ở cõi Lĩnh Nam” (sic). Truyền thuyết Hồng Bàng và nhiều cổ tích khác (Hồ tinh, Ngư tinh, Phù Đổng Thiên Vương, Nhất Dạ Trạch, thần Tản Viên, Cây Cau.. lần đầu tiên được ghi trong LNCQ. Kiều Phú viết trong bài tựa “Ôi! Nếu trời đã sai chim huyền điểu xuống để sinh ra nhà Thương (2) thì ắt có việc trăm trứng nở ra con chia nhau cai trị nước Nam. Truyện họ Hồng Bàng không thể mất được. Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi trâu, cho nên con cháu họ Triệu chống lại Bắc Triều...”( 3)

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, do Ngô Sĩ Liên (năm sinh/năm mất không rõ) soạn năm 1479, mang truyền thuyết Hồng Bàng vào phần ngoại kỷ.

Năm 1919, tác giả Trần Trọng Kim (1882-1953) soạn Việt Nam Sử Lược dựa vào ĐVSKTT. Trần Trọng Kim mang truyền thuyết Hồng Bàng vào VNSL. Cùng thời, chữ quốc ngữ phát triển, truyền thuyết Hồng Bàng được nhắc nhở nhiều, khiến huyền sử trở thành chính sử.

Truyền thuyết Hồng Bàng


“Cứ theo tục truyền thì vua Đế Minh, cháu ba đời vua Thần Nông, đi tuần thú phương Nam đến Ngũ Lĩnh (thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ) gặp một nàng tiên, lấy nhau đẻ ra người con tên Lộc Tục. Sau Đế Minh truyền ngôi lại cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương Bắc, và phong Lộc Tục làm vua phương Nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu là Xích Quỷ.

Bờ cõi nước Xích Quỷ bấy giờ phía Bắc giáp Động Đình Hồ (Hồ Nam), phía Nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm thành), phía Tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía Đông giáp bể Nam Hải.

Kinh Dương Vương làm vua nước Xích Quỷ vào quãng năm Nhâm Tuất (2879 trước Tây Lịch?) và lấy con gái Động Đình Quân là Long nữ đẻ ra Sùng Lãm, nối ngôi làm vua, xưng là Lạc Long Quân.

Lạc Long Quân lấy con gái vua Đế Lai tên là Âu Cơ, đẻ một lần được một trăm người con trai. Lạc Long quân bảo Âu Cơ rằng: ''Ta là dòng dõi Long-quân, nhà ngươi dòng dõi thần tiên, ăn ở lâu với nhau không được. Nay được trăm đứa con thì nhà ngươi đem 50 đứa lên núi, còn 50 ta đem xuống bể Nam Hải.'' (sic)

Truyền thuyết nơi người Việt hải ngoại


Ở Orange County, địa danh/tên tuổi của truyền thuyết được dùng đặt tên cho một số cơ sở: Trung Tâm Việt Ngữ Hồng Bàng, Hiệp Hội Di Sản Hùng Vương, Đoàn Văn Nghệ Lạc Hồng, hoặc... tiệm ăn: Âu Lạc.

Thật sự, những người quan tâm tới truyền thuyết Hồng Bàng, tới lịch sử nói chung, không nhiều. Một số người còn tỏ vẻ coi thường, cho Hồng Bàng là chuyện vớ vẩn khó tin. Trái lại, một số bài viết/tác phẩm công phu/dài hơi, huyền thoại hóa thêm truyền thuyết đã sẵn mầu mờ ảo, khiến truyền thuyết/lịch sử dường như trở thành một món xa xỉ, chỉ dành cho giới... cao cấp. Hậu quả, những buổi nói chuyện về tiểu phẩm/tác phẩm lịch sử chỉ lôi cuốn được một số người, đa số lớn tuổi, hoặc các cựu giáo chức sử/địa/ngôn ngữ. Con số thật khiêm nhường so với một buổi trình diễn ca nhạc. Do đó “về nguồn, di sản văn hóa, giữ gìn bản sắc dân tộc, 4000 năm văn hiến...” được lập đi lập lại trong các bài bình luận/diễn văn đẫm ánh đèn sân khấu, cũng hiếm khi nêu rõ nguồn gì, di sản ấy là gì, bản sắc gì, giữ gìn thế nào, văn hiến tính từ hồi nào...

Ở giới trẻ, có lẽ sự hiểu biết về truyền thuyết cũng hạn chế. Ngay các thày cô giáo tình nguyện dạy Việt Ngữ, cũng không có câu trả lời khi các em học sinh thắc mắc “đẻ một lần một trăm con, người đẻ ra trăm trứng...” Vô tri bất mộ, không biết tất không yêu. Tuy không nói ra, các em không tin tưởng vào truyền thuyết nữa. Cứ thế, nước chảy qua cầu.

Tình trạng này, có lẽ bắt nguồn từ vài khiếm khuyết có từ rất lâu, ngay từ trước 1975 ở miền Nam:

. Thiếu khái niệm về huyền thoại và lý giải hợp lý ;

. Thiếu giải thích địa bàn, thời điểm, bản đồ, di chỉ, đồ thị, tranh ảnh... trong hầu hết các sách giáo khoa hoặc các tác phẩm lịch sử. Sử Địa vì vậy là một môn học rất khó nhá, chỉ cần học thuộc lòng để đi thi rồi thôi. Bài viết ngắn này vì vậy xin gợi sự lưu ý đến địa điểm Hồ Nam và Ngũ Lĩnh, cùng những tồn nghi từ thuở còn ngồi ghế trung học.

Địa bàn của truyền thuyết


Chuyện “tuần thú” phương Nam của vua Đế Minh rất dế mèn phiêu lưu ký. Không rõ ông bắt đầu từ đâu, đi với ai, đi bằng gì, đi năm nào. Đến núi Ngũ Linh, Đế Minh gặp một nàng tiên. Mối duyên tình kỳ bí bắt đầu, làm tiền đề cho truyền thuyết về nguồn gốc dân tộc Việt. Nhân dáng nàng tỏa hương cổ tích: tất cả các tiên đều xuất phát từ miền núi, hang động. Động Bích Đào (4) vàng rơi ánh nguyệt, động Thiên Thai (5) nơi hoa xuân chưa gặp bướm trần gian. Từ núi, người tiên huyền thoại chỉ hiện ra một lần. Giới sử học hiếm khi lý giải đến tên tuổi lý lịch dòng tộc nàng. Dung nhan mờ ảo của nàng lùi dần rồi khuất xa mãi mãi, dù người Việt vẫn hãnh diện nhận “con rồng cháu tiên”.

Nhưng nơi tương phùng lại có thật: núi Ngũ Lĩnh ở phía nam sông Dương Tử, thuộc tỉnh Hồ Nam bây giờ. 5000 năm trước, nơi đó chưa có tên.

Nhưng có tìm tòi, mới thấy cái khó khăn của người xưa, khi tài liệu duy nhất là từ Trung Hoa. Ngay bây giờ, chỉ đi tìm chân dung núi Ngũ Lĩnh, thiếu điều tẩu hỏa nhập ma. Người Trung Hoa gọi Lĩnh Nam là vùng đất phía Nam núi Ngũ Lĩnh. Họ không để ý đến núi Ngũ Lĩnh này vì họ đã thống nhất các bộ lạc thuộc chủng Yue từ lâu.

Các tự điển internet, Wikipedia, Encyclopedia, có nhũng mô tả khá xa nhau:

Wuling Range ((fuq) chạy dài từ phía Tây Hồ Nam đến phía đông Quí Châu. Ngọn Wulingyuan, vĩ tuyến 29 16 Bắc, 110 22 Đông, hiện được Unesco công nhận là kỳ quan thế giới, là một nơi thu hút khách du lịch và cung cấp dược thảo các loại.

Nanling, Nam Lĩnh, còn gọi là Ngũ Lĩnh (Wđ) tên dãy núi ở vùng ranh giới các tỉnh Hồ Nam, Giang Tây, Quảng Đông, Quảng Tây của Trung Quốc, ngăn cách vùng Lưỡng Quảng với phần lãnh thổ phía bắc của vùng Giang Nam.

Sách vở Việt lại chỉ lưu ý đến Tiểu Ngũ Lĩnh, biên giới thiên nhiên giữa 2 nước Việt-Hoa. Nơi đây là địa bàn của ít nhất hai cuốn dật sử đầu tiên của VN, Lĩnh Nam Dật Sử (1150), và Lĩnh Nam Chích Quái nói trên.

Hồ Nam VW: phía Nam sông Dương Tử, kinh tuyến 108 47 đến 114 Đông, vĩ tuyến 24 đến 30 Bắc. Hồ Nam còn được gọi tắt là tỉnh Tương, theo tên sông Tương (6). Hồ Nam dài 774km, rộng 667km. Hà Nội, vĩ tuyến 21 Bắc, kinh tuyến 105 53 Đông. Mỗi độ là 66 miles hay 111km. Hà Nội cách cực Nam Hồ Nam 333km, cách cực Bắc Hồ Nam 999km.

Địa bàn có thật, không có nghĩa câu chuyện xảy ra đúng in như vậy. 5000 năm trước, chưa có chữ, không có nước nào có tín sử.

Tên các nhân vật đều bằng tiếng Hán ròng do người Trung Hoa đặt hàng ngàn năm sau. Các họ Minh, Hùng, Sùng, Lạc... không thấy hiện diện cả trong lịch sử Việt lẫn trăm họ bây giờ. Tìm kiếm chỉ là... vô vọng vì tất cả những tên tuổi/địa danh trong truyền thuyết đều được tô vẽ hay cóp nhặt qua lại (7). Điều quan trọng tác giả truyền thuyết muốn nhắn gửi là gì? Có phải “những nhân vật trong truyền thuyết thuộc chủng Việt cổ, xuất xứ từ một vùng đất của chủng Việt cổ,” là xứ Trung Hoa bây giờ.

Nói “bây giờ,” vì 5000 năm trước, trên đất Việt Cổ, chưa có nước Trung Hoa. Nhà Chu, triều đại dài nhất và có tín sử của Trung Hoa (1046 - 256TCN) cũng vẫn chỉ là một số bộ lạc thuộc chủng Hoa Hạ ở bờ Bắc sông Hoàng Hà, thuộc hai tỉnh Cam Túc, Thiểm Tây. Thời Xuân Thu (771-401 TCN), Trung Hoa cũng vẫn chỉ là tập hợp một nhóm các nước nhỏ. Mãi đến đời Tần Thủy Hoàng, (207 TTC) gồm thâu 6 nước, mới bắt đầu thành hình một quốc gia gọi là Trung Hoa.

Chủng Bách-Việt xin gọi là Việt-cổ - thiết nghĩ chính xác hơn, cho một ý niệm lập tức về thời gian- là hàng ngàn những bộ lạc/bộ tộc/thị tộc thuộc chủng Yue, tức Việt. Từ Bách Việt xuất hiện lần đầu tiên trong Sử Ký của Tư Mã Thiên. (109 TCN- 91 TCN.). “Bách”, hoàn toàn không có nghĩa “một trăm”. - Rảnh đi coi cải lương không? - Đâu được, bận một trăm việc đây nè. Tiếng Việt có nhiều ca dao/thành ngữ cùng tả ý “không đếm được” ấy: trăm công nghìn việc, trăm nhớ ngàn thương, trăm năm dầu lỗi hẹn hò, trăm dâu đổ vào đầu tằm... Thơ Nguyễn Bính: Mình đi trăm núi nghìn sông. Ngờ đâu mang cả lạnh lùng sang Nam.

Chủng Yue có hai chi lớn nhất: Âu và Lạc. Mỗi chi đều có hàng ngàn những bộ lạc sống cạnh/xen lẫn nhau. Xem “Mékong Ký Sự”, một làng nhỏ ở Vân Nam bên giòng Lan Thương (8) gồm 2.600.000 dân, có đến 14 tộc người sống hòa bình với nhau. Tộc nào giữ nguyên ngôn ngữ, văn hóa tộc ấy từ hàng ngàn năm, hồn nhiên trước thay đổi của thế giới. Các tộc ấy,Yi, Hà Nhì, Bạch, Choang, Thái, Bái, Ngõa, Hán, Hồi, Miêu, Yao... sống đơn giản giữa thiên nhiên tuyệt diệu và câu chuyên thần kỳ về nguồn gốc tộc mình. Những tộc này cũng có mặt ở vùng thượng du/trung du Bắc Việt Nam. Điều này cho thấy sự du đãng kỳ diệu đến mức khó tin của bàn chân người. Đồng thời cũng cho thấy sức sống bền bỉ trong mỗi dân tộc dù thay đổi địa bàn sinh sống. Bản tin nghe từ radio tháng 3/2007: theo một cuộc phỏng vấn nửa triệu người ở 37 địa điểm trên đất Trung Hoa, chỉ 51% biết nói tiếng quan thoại, đa số là giới trẻ ở thành thị. Vậy 49% nói tiếng gì, bản tin không cho biết.

Lạc Việt: một chi lớn thuộc chủng Yue. Lạc Việt cũng gồm hàng ngàn tiểu chi. Lạc Việt chỉ là một thành phần nằm trong Việt Cổ, nhưng Lạc Việt không bao giờ là toàn khối Việt cổ. Lạc Việt cũng là một trong nhiều thành tố cấu thành dân Việt ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy, khi sử Trung Hoa nói về Lạc Việt, dù là dân tộc, văn hóa, tiếng nói, biên giới, địa bàn, không phải lúc nào họ cũng ám chỉ người Việt ở Việt Nam.

Đất Việt cổ: chỉ vùng đất từ sông Dương Tử trở xuống. Lúc đó, cả hai chủng Hoa Hạ và Việt cổ đều chưa thành lập những quốc gia đầy đủ những thành tố như bây giờ. Có chăng chỉ là những bộ tộc hay liên minh bộ tộc ở rải rác.

Tình trạng chấp nhận truyền thuyết rồi bỏ lửng lơ không giải thích sẽ để lại cho thế hệ tương lai một black hole, một loại tin tưởng “không thấy mà tin”. Nhưng nếu chấp nhận truyền thuyết, sẽ phát sinh một loạt các câu hỏi:

Hai chủng Hoa Hạ - Việt-cổ có pha trộn không? Vào thời điểm nào?

Người Việt-cổ ở Trung Hoa bây giờ tan biến vào đâu?

Người Việt Nam có phải là người Trung Hoa không?

Người Việt Nam là thành phần nào của chi Lạc? Anh em gần gũi xa/gần của người Việt Nam là những tộc nào?

Người Việt Nam hiện nay có phải là một dân tộc thuần chủng không? Nếu không, những thành tố kia là ai? Từ đâu đến? Hậu duệ là ai?

Ngoài địa bàn trong truyền thuyết, người Việt Nam còn từ địa bàn nào khác?

Quan niệm thế kỷ 15 thời sử gia Ngô Sĩ Liên “không dám rong ruổi ngàn năm để làm chuyện chắp vá”, là phát biểu thời quân chủ. “Thà làm đầu con gà còn hơn làm đuôi trâu”, đan tâm của người xưa muốn nêu cao tự hào dân tộc khi chủ quyền dân tộc bấp bênh. Năm 2007, nếu không xác nhận được địa bàn của tộc Việt, loại tranh cãi tỷ như ai là chủ nhân trống đồng, kinh Dịch, các nền văn hóa Đông Nam Á, văn minh lúa nước, tiếng Việt/tiếng Tàu... chỉ loanh quanh giữa các tác giả người Việt, những tấm lòng son cô quạnh giũa hoang phế miếu đường (9).

Nói chi đến việc tự tin tranh cãi trên trường quốc tế về lãnh thổ/lãnh hải.

Bảo vệ lãnh thổ vẫn là trường ca sinh tử cho dòng giống Việt như tự ngàn năm này qua ngàn năm khác!!

CHÚ THÍCH


(1) Maddox: www.history.navy.mil/photos/sh-usn/usnsh-m/dd731-k.htm

(2) Nhà Thương: khoảng 1027 TCN, triều đại đầu tiên của Trung Quốc, phía Tây châu thổ sông Vị. Ông vua đầu tiên là Thành Thang, vua cuối cùng là vua Trụ.

(3) Lĩnh Nam Chích Quái/Vũ Quỳnh, Kiều Phú/NXB Văn Học, Hà Nội.

(4) http://chimviet.free.fr/dantochoc/neovevh/lvhs067.htm

Lê Văn Hảo/Xứ Thanh, Xứ Nghệ: động Bích Đào, còn gọi là động Từ Thức, huyền thoại về cuộc tình duyên đẹp dở dang giữa người trần Từ Thức với nàng tiên Giáng Kiều. Động Bích Đào nằm ở dãy núi Thần Phù (xã Nga Thiện, huyện Nga Sơn), tỉnh Thanh Hóa.

(5) Nguyễn Tường Bách/Mùi Hương Trầm, NXB Trẻ, 2003: huyền sử chép hai chàng Lưu Thần, Nguyễn Triệu đời Hậu Hán (25-250) đi hái thuốc trong núi gặp tiên. Sống với tiên được nửa năm, hai chàng nhớ nhà xin về. Lúc trở lại nhà thì dưới thế đã qua được 7 đời. Khi trở lại, đào nguyên không còn. Động Thiên Thai thuộc về núi Thiên Thai, 100 km cách thành phố Ninh Ba/Trung Hoa.

(6) Chàng tại Tương giang đầu. Thiếp tại Tương giang vĩ, chính là ở đấy.

(7) http://www.viethoc.org/phorum/read.php?10,8975,8975,quote=1

Truyện Liễu Nghị, đời Tống, rất liêu trai chí dị: thư sinh kết duyên với con gái út của Long quân hồ Động Đình, in hệt đoạn Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình Quân

(8) Phim tài liệu Mékong Ký Sự/Truyền Hình TP HCM 2003, sông Lan Thương, tên của sông Mékong khúc chảy qua Vân Nam, có nghĩa “đóa Lan xanh”.

(9) Viên Linh/Hỡi ơi hoang phế miếu đường.

Lòng son như ngói âm dương tan tành.