TIẾNG CHUÔNG CẢNH BÁO VỀ BẠO LỰC VÀ TÌNH DỤC


Trần Mỹ Duyệt


Theo tài liệu của màn điện toán Zenit, ngày 26 tháng 8 năm 2006, trong mục "Thế Giới Được Nhìn Từ Rôma" , thì vấn đề bạo lực và tình dục đang ngày một trở nên vấn đề nhức nhối đối với tình trạng luân lý và đạo đức xã hội, cách riêng đối với giới trẻ. Và những ảnh hưởng nguy hại nay, tuổi trẻ thường bị ảnh hưởng do truyền thông.

Những khảo cứu gần đây đã xác định tầm ảnh hưởng của truyền thông đối với giới trẻ. Tạp chí khảo cứu của những bác sĩ nhi đồng số ra ngày 2 tháng 8 vừa qua, phát hành do Viện Hàn Lâm Hoa Kỳ của Các Bác Sĩ Nhi Đồng có trụ sở tại Illinois, đã đề cập đến 2 đề tài của vấn đề như sau:

Một trong đề tài mang tựa đề nhắm vào ảnh hưởng của những lời lẽ thô tục và dâm dật trong các nhạc phẩm đối với giới trẻ. Kết quả này dựa trên cuộc phỏng vấn bằng điện thoại với 1.461 em vị thành niên tuổi từ 12 đến 17 tuổi. Những nhóm trong số những bạn trẻ này được phỏng vấn theo ba thời điểm vào năm 2001, 2002, và 2004. Các em cho biết, các em đã nghe nhạc trung bình từ 1 giỡ rưỡi đến 2 giờ rưỡi mỗi ngày, ngoài thời gian nghe nhạc khi xem những videos. Các em nghe từ nhạc trữ tình, kích thích dục vọng, kích động đến hung bạo.

Những tác giả khảo cứu đã để ý quan sát và đã khám phá ra có sự ảnh hưởng về phán đoán khi nghe những bài nhạc kích thích dục vọng nơi giới trẻ. Kết quả của cuộc khảo cứu ấy đã xác định rằng em nào dùng nhiều thời gian nghe những loại nhạc này sẽ năng động đối với những hành động tình dục hơn những em ít hoặc không nghe những nhạc phẩm ấy.

Cuộc khảo cứu dù không đưa ra những kết luận khẳng định nguyên nhân gây ra tình trạng khác biệt giữa các em. Tuy nhiên, những kết quả cho thấy rằng những em nào càng nghe nhiều những loại nhạc này, càng dẫn đến tình trạng liên quan đến hành vị tính dục. Mặt khác, sự trình bày những nhạc phẩm mang tính cách đề cao phẩm chất đạo đức vẫn không làm thay đổi ý niệm về phái tính và tính dục. Bài khảo cứu kết luận: “Giảm thiểu nội dung dục vọng, đồi trụy trong những nhạc phẩm thông thường hoặc giảm thiểu trình bày cho tuổi trẻ nội dung loại nhạc này sẽ giúp làm chậm lại hành vị tính dục” .

Một cuộc khảo cứu khác dựa trên 2.485 học sinh ở North Carolina cũng cho biết rằng, thường xuyên theo dõi những màn đô vật trên truyền hình trước đó và liên quan đến những cuộc cãi lộn, ẩu đả, hoặc dùng khí giới, đã đưa tới kết quả tạo nên sự bạo động hơn nơi các em nữ.

Các tác giả cũng cho rằng có nhiều lý do liên quan đến việc sử dụng bạo lực nơi thành phần thanh thiếu niên. Các tác gỉa này kết luận: “Thật vậy, nhiều cuộc khảo cứu đã cho biết sự liên quan mật thiết giữa các hành động phô diễn của tuổi trẻ với bạo lực và trở thành nạn nhân, nguy hiểm vì mang khí giới, thái độ chấp nhận sử dụng bạo lực hoặc những cử chỉ bực tức để giải quyết bất đồng hoặc đạt được mục đích, và việc dùng bạo lực”. Và khảo cứu kết luận: “Giảm thiểu việc phô diễn bạo lực nơi trẻ em hoặc tuổi vị thành niên khỏi những nguồn truyền thông trở thành một yếu tố quan trọng ngăn chặn bạo lực”.

Liên quan tới bạo động:


Bạo lực và truyền thông đã trở thành chủ đề hơn 500 trang khảo cứu phát hành tháng 12 năm vừa qua, một trong những chương này đã nhắm tới những nhạc phẩm kích động và tuổi trẻ.

Các tác giả Barbara Wilson và Nicole Martins đã trích dẫn những loại nhạc khích động mang tính chất cao về bạo lực, và rằng những băng nhạc như vậy đều liên quan đến những hành động bạo lực.

Những nhà khảo cứu này đã quan sát một số học sinh và đã khám phá ra mối liên lạc giữa nhạc khích động và hành vi bạo động. Trong mối tương quan với lý do, những học sinh bị kiềm hãm đã cho rằng nghe nhạc kích động khuyến khích những tư tưởng bạo động.

Những cuộc khảo cứu bị giới hạn, tuy nhiên, Wilson và Maritns đã đi đến kết luận rằng: “Số lượng dữ kiện đã cho thấy có sự liên quan mật thiết đối giữa việc trình diễn nhạc kích động và bạo động.” Thêm vào đó, một số những khảo cứu cũng cho thấy ảnh hưởng tiêu cực liên quan đến sự căng thẳng, ngôn ngữ và thái độ kỳ thị chủng tộc.

Trình bày về tương quan trực tiếp giữa truyền hình và bạo lực. Tác giả Dale Kunkel và Lara Zwarun nhận định: “Có những dẫn chứng khoa học cho rằng bạo lực trên truyền hình là nguy hại cho tuổi trẻ”.

Những ảnh hưởng tiêu cực bao gồm: Việc tập thành, bắt chước những hành vị bạo lực; vô cảm đối với những nạn nhân của bạo lực; và tăng sự sợ hãi trở thành nạn nhân của bạo lực. Bài khảo cứu ghi nhận rằng hằng trăm những cuộc khảo cứu khác đã ủng hộ kết luận cho rằng xem truyền hình bạo lực dẫn tới việc gia tăng kết quả bạo lực.

Những nội dung nói về bạo lực của truyền hình rất nhiều. Một khảo cứu kéo dài 3 năm đưa ra kết quả rằng 60% những chương trình truyền hình có nội dung bạo lực. Hơn nữa, bạo lực còn được “lành mạnh hóa” và không thật sự có hại cho nạn nhân. Những trường hợp như vậy, theo Kunkel và Zwarun, gia tăng ảnh hưởng nguy hại đối với giới trẻ.

Những con số quan ngại:


Những quan tâm về những ảnh hưởng tiêu cực này được kiểm chứng bằng những dữ kiện cho biết bao nhiêu giờ trẻ em xử dụng truyền thông. Ngày 24 tháng 5 năm 2006, Tổ Chức Gia Đình của Kaiser đã công bố một khảo cứu cho biết rằng nhiều phụ huynh còn khuyến khích con em mình xử dụng truyền hình.

Trong số 1.051 phụ huynh có con từ 6 tháng tuổi đến 6 tuổi tại Hoa Kỳ đã tham dự một cuộc nghiên cứu, đã đưa lại kết quả là: 83% trẻ em dưới 6 tuổi đã xử dụng truyền thông (TV, videos, computer) trung bình 2 giờ mỗi ngày. Trong nhiều gia đình TV được đặt khắp nơi từ phòng khách, đến phòng ăn và phòng ngủ. 1/3 các em tham dự cuộc khảo cứu cho hay các em có TV trong phòng riêng của mình.

Mặc dù những chương trình tốt có ảnh hưởng đến con em họ. Cũng như nhiều phụ huynh tỏ dấu hài lòng về những chương trình truyền hình mà con em họ xem. Tuy nhiên, nhiều phụ huynh khác đã phàn nàn về việc xử dụng truyền thông của con cái họ. Những phụ huynh này cho rằng họ cần phải có nhiều thời gian hơn với con cái của họ. Những phụ huynh này cũng cho hay cần thiết phải có những dụng cụ kiểm soát đối với những chương trình truyền hình phổ biến những trò chơi mang tính bạo lực.

Cuộc khảo cứu cũng tiết lộ rằng nhiều trẻ em đã xem những phim ảnh dâm ô khi cha mẹ các em xem những chương trình này trên truyền hình. Thực tế có tới 1/3 trẻ em sống trong những gia đình mà cha mẹ mở TV suốt ngày.

Nhật báo Người Giám Hộ ra ngày 3 tháng 5 vừa qua cho biết 1/3 các em tuổi từ 8 đến 11 tuổi tại Anh Quốc thường xuyên truyền hình một mình.

Thêm vào đó, 7/10 phụ huynh có đặt cable hoặc satellite nhìn nhận rằng họ không có ráp đặt hệ thống kiểm soát để theo dõi những chương trình mà con em họ thường xem. 4/10 phụ huynh có con từ 12 đến 15 tuổi xác nhận rằng trong nhà họ con cái muốn xem gì mặc ý, không có một luật lệ nào cả.

Trong khi đó, tại Tây Ban Nha, nhật báo El Pais tường trình ngày 24 tháng 5 cho hay 800.000 trẻ em đã theo dõi truyền hình sau 10 giờ đêm, thời điểm mà các máy truyền hình cần phải có dụng cụ kiểm soát theo dõi những phim ảnh đồi trụy. Cũng theo đó, trẻ em từ 4 đến 12 tuổi đã dùng đến 864 giờ mỗi năm trước máy truyền hình, so sánh với 960 giờ đến trường.