Richard Nixon, Henry Kissinger và Sự Sụp Đổ Của Miền Nam

Đỗ Kim Thêm

Vấn đề


"Mỹ không thể bỏ Việt Nam" đó là một niềm tin son sắt của chính giới và người dân miền Nam trước ngày 30 tháng 4 năm 1975. Hơn nữa, VNCH với 1 triệu 1 quân nhân, một không lực đứng hàng thứ tư trên thế giới, kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, không ai tin là có thể đầu hàng. Cuối cùng, chuyện không muốn đã đến khi Đồng Minh tháo chạy. Cho đến nay, vẫn còn có câu hỏi đặt ra là tại sao VNCH sụp đổ, vì trong lịch sử chiến tranh của nhân loại, đã chưa có một trường hợp nào tương tự như vây đã xảy ra và các lý giải vẫn chưa thoả đáng.

Lý do thật dễ hiểu:


Việt Nam không còn các sử gia chân chính; nhiều cán bộ sử học của phe thắng cuộc đang tiếp tục làm nhiệm vụ tuyên truyền; các sử gia khả tín của phe thua cuộc không còn cơ hội lên tiếng; sử gia ngoại quốc cũng chẳng soi sáng được nội tình nhiều hơn vì là người ngoại cuộc. Thế hệ tham chiến không thể kể hết tiếng lòng của nạn nhân chiến cuộc; các tự sự qua ký ức cá nhân và ký ức tập thể mờ nhạt qua bụi thời gian. Vì không có một chương trình giáo dục khách quan cho thế hệ hậu chiến, nên các mờ ảo của lịch sử cận đại còn đó.

Tổng Thống Richard Nixon và Cố vấn Henny Kissinger là hai chính khách trực tiếp can dự vào sự sụp đổ của VNCH. Richard Nixon đã thú nhận những sai lầm qua danh tác “No More Vietnam“. Henry Kissinger, vốn là nhà sử học và có nhiều trước tác liên quan; nhưng gần đây ông cũng cho là chưa có một tác phẩm nào về chiến tranh Việt Nam là khách quan và thuyết phục.

Trước đống tro tàn của lịch sử, một câu hỏi được đặt lại là Richard Nixon và Henry Kissinger đã làm gì trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh và ai thắng ai thua trong sự sup đổ của VNCH; đó là nội dung của vấn đề ở đây và bài viết này là một thử nghiệm khiêm tốn.

Nhậm chức Tổng Thống và bổ nhiệm Cố Vấn


Sau bao năm thăng trầm trong chính trường, Nixon thắng cử và trở thành Tổng Thống thứ 37 của Hoa Kỳ. Ông là một luật sư có tài hùng biện, văn tài diễn đạt trong sáng, mà tác phẩm “No More Vietnam” là một thí dụ điển hình, nhưng thái độ kiên quyết chống Cộng làm ông nổi danh.

Trước đây, trong trận Điện Biên Phủ, ông đã từng kêu gọi Hoa Kỳ phải oanh tạc Bắc Việt, rồi đến việc xây dựng miền Nam, ông ủng hộ Tổng Thống Diệm không điều kiện và sau này ông còn cáo giác Johnson là không có đủ biện pháp mạnh để giải quyết vấn đề.

Sau khi nhậm chức, ông nhận ra rằng cần phải có một chính sách ngoại giao mới, mà khó khăn nhân sự là hàng đầu. Ngoại Trưởng William Rogers vốn là một người bạn vong niên mà ông tín cẩn, lại thiếu nhạy bén trong các vấn đề ngoại giao, trong khi William Laird, Bộ Trưởng Quốc phòng, luôn tỏ ra là người thừa lịnh hơn là đề xuất sáng kiến.

Để làm việc hiệu năng hơn, ông quyết định bổ nhiệm Henry Kissinger, Giáo sư Đại học Harvard, vào chức vụ Cố Vấn An ninh Quốc gia, mà ý kiến sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các quyết định liên quan với chiến cuộc Việt Nam đang leo thang.

Chiến cuộc leo thang


Nixon đồng quan điểm với các bậc tiền nhiệm về học thuyết Domino: Việt Nam lọt vào tay Cộng sản là một tai hoạ chung cho các nước Đông Nam Á. Tham chiến là một trò chơi quá nguy hiểm cho uy tín quốc tế của Hoa Kỳ và chiến thắng bằng giải pháp quân sự là khó; vì có nhiều lý do: quân đội cần hiện đại hoá các trang bị để gia tăng hiệu năng tác chiến mà ngân sách đang thâm thủng; kinh phí quốc phòng hằng năm đã lên đến gần 30 tỷ Đô la, chiếm dụng 40% ngân sách. Nếu rút quân để tránh tiếp tục sa lầy, tình hình sẽ nghiêm trọng. Áp lực chính trị quốc nội ngày càng nặng nề. Phe Bồ câu kêu gọi thương thuyết, trong khi phe Diều Hâu chủ trương không kích, nhưng cả hai cùng có một đòi hỏi chung là 543.000 quân nhân Hoa Kỳ phải hồi hương, nhất là khi số lượng tử vong của binh lính lên tới 14.600.

Nixon và Kissinger tin là phải chấm dứt chiến tranh bằng cách thông qua Moscow và Bắc Kinh; nhưng không phải các vấn đề dị biệt ý thức hệ là chính, mà là quyền lợi cụ thể sẽ thuyết phục Moscow và Bắc Kinh quan tâm giải quyết. Nhưng tìm cách nối kết các quyền lợi dị biệt này thành quan điểm chung về ngoại giao đó là mục tiêu, một giải pháp lý tưởng mà Hoa Kỳ chấp nhận được là Moscow và Bắc Kinh phải ngưng viện trợ vũ khí cho Bắc Việt. Dù bang giao với Moscow đã có nhiều cải thiện sau thời kỳ giảm căng thẳng, nhưng Hoa Kỳ vẫn còn trở ngại với Bắc Kinh. Hai giải pháp tương lai của chiến trường và đàm phán đều còn mờ mịt.

Để thực hiện, ông dựa theo học thuyết Nixon 1969 là tiếp tục ủng hộ VNCH và Đồng Minh, nhưng chính phủ VNCH phải chịu trách nhiệm chính trong công cuộc chiến đấu. Hoa Kỳ sẽ trang bị tối đa vũ khí cho QLVNCH cùng lúc với việc rút quân theo lịch trình dự định và can thiệp quân sự chỉ là trường hợp ngoại lệ.

Khác với các luận điểm trong chiến dịch tranh cử, Nixon đề ra một kế hoạch tuyệt mật và hy vọng là sẽ kết thúc chiến tranh trong vòng một năm. Ông theo đuổi ba mục tiêu chính:


* Một là gây ý thức trong công luận về triển vọng kết thúc chiến cuộc, nhưng không nhất thiết phải là chiến thắng quân sự thuần túy.

* Hai là Hoa Kỳ không bỏ rơi VNCH và từ bỏ mục tiêu cao cả đã cam kết.

* Ba là kết thúc chiến cuộc là một giải pháp khả thi, nhưng đầy danh dự cho Hoa Kỳ.


Ông đề ra các giải pháp cụ thể:


Để phá vỡ hậu cần tại miền Bắc, cần tiếp tục oanh tạc các đường tiếp vận và phong toả hải cảng nơi nhận các quân dụng viện trợ. Để làm suy yếu tiềm lực chiến đấu tại miền Nam, cần tăng cường chiến dịch Bình Định Nông Thôn mà Johnson đã thành công.

Để gây chuyển biến nhanh hơn, Nixon muốn quyết định táo bạo mà ông gọi là lý thuyết của người điên (Madman Theory). Dù không có trên văn bản, nhưng qua các cuộc hội luận với H. R. Haldeman, một công sự viên thân tín, ông nêu các lập luận qua trích thuật “Tôi sẽ chứng tỏ cho Hà Nội biết rằng khi nổi điên lên đến cực điểm, tôi sẽ làm tất cả những gì để kết thúc chiến cuộc. Chúng ta sẽ cho Hà Nội thấy là khi Nixon căm ghét Hà Nội biết chừng nào, khi Nixon nổi điên, thì không ai kiềm chế được“.

Việc Hoàng thân Norodom Shihanouk thuận cho CSBV sử dụng lãnh thổ Campuchia làm cơ sở hậu cần để cho QĐNDVN xâm nhập miền Nam là vấn đề mà Nixon thấy cần phải giải quyết trước. Từ tháng 2 năm 1969, qua cuộc hành quân Operation Menu, Nixon ra lịnh cho Không Quân Hoa Kỳ ném bom xuống các căn cứ của CSBV trên lãnh thổ Campuchia. Công luận và các giới chức cao cấp không được thông báo về diễn tiến này. Trong 14 tháng liên tục Hoa Kỳ đã ném 100.000 tấn bom làm cho Hà Nội bị tổn thất nặng nề, nhưng không hề công bố về con số thương vong và tiềm lực suy giảm.

Vào tháng sáu 1969, Nixon đề nghị Hoa Kỳ và CSBV rút quân khỏi Nam Việt Nam và mọi hình thức hoà đàm sẽ do hai phiá Bắc và Nam quyết định. So với Johnson, Nixon và Kissinger mềm dẻo hơn. Ông đề nghị là đến tháng 11 năm 1969, nếu Hà Nội không chấp thuận thì ông sẽ tăng cường các giải pháp quân sự. Nhưng Hà Nội bác bỏ, nên hoà đàm không khả thi.

Thoạt đầu, áp lực của giới phản chiến xuống thấp, khi Nixon tuyên bố rút 25.000 quân vào tháng 6 năm 1969 và tiếp tục rút thêm 60.000 vào tháng 9. Lịnh nhập ngủ được thay thế bằng hình thức rút thăm và giới trẻ cũng như sinh viên ít khi gặp phải. Đến tháng 10 phong trào phản chiến gây sôi động khi Quốc Hội thông qua đạo luật cấm đóng quân Hoa Kỳ tại Thái và Lào vào tháng 9. Chống đối lên đến cao điểm khi có 4 triệu người biểu tình trên 200 thành phố. Bài hát của John Lenon “Give Peace a Chance“ và việc trưng bầy danh sách các binh sĩ nằm xuống tại bậc thềm Quốc Hội là hai biểu tượng chính.

Trước áp lực của công luận, Nixon không có phản ứng thích hợp và ra lịnh cho 300 quân nhân phong toả Toà Bạch Ốc. Trong diễn văn truyền hình ngày 3 tháng mười một, ông cảnh báo giới phản chiến là một hiện tượng tắm máu sẽ xảy ra khi miền Nam thất thủ và phong trào phản chiến gây khó khăn cho thiện chí đem lại hoà bình của Hoa Kỳ. Chính Hoa Kỳ có thể làm suy yếu CSBV, và không có trường hợp ngược lại. Tài hùng biện trong diễn văn này đem lại thành công đáng kể cho Nixon khi gần 70% dân chúng đồng thuận với chính sách. Phong trào phản chiến suy giảm khi tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh bắt đầu.

Việt Nam Hoá Chiến Tranh


Khi công luận Hoa Kỳ hoan nghênh việc Việt Nam Hoá chiến tranh và hồi hương các binh sĩ, thì các giới chức tại Ngũ Giác Đài và Bộ Quốc Phòng VNCH bi quan cho rằng sách lược này chỉ là để miền Nam đầu hàng CSBV theo thời gian. Chính quyền VNCH, mặc dù triệt để chống kế hoạch, nhưng không còn cách nào khác hơn là tỏ ra ủng hộ giải pháp này.

Giữa tháng 6 năm 1970 QLVNCH gia tăng quân số từ 850.000 lên đến một triệu, do lịnh Tổng Động Viên ban hành, thanh niên trong tuổi từ 18 đến 35 phải nhập ngũ. Hoa Kỳ trang bị cho QLVNCH vũ khí, quân xa va trực thăng hiện đại. Chiến dịch Bình Định Nông Thôn thành công đem lại an ninh cho các vùng xôi đậu trước đây.

Cuối năm 1971, chính phủ đã kiểm soát nông thôn nhiều hơn; không khí bình yên trở lại xóm làng và các cuộc bầu của Hội Đồng Xã là có tự do thật sự. Luật Người Cày Có Ruộng của Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đem lại ưu thế chính trị hơn cho ông, khi số lượng đất cấp phát từ 29% lên đến 56% trong năm 1972, cụ thể là 800.000 nông dân vô sản có được đất để canh tác. Thành phố sung túc hơn với các mặt hàng tiêu dùng do viện trợ Hoa Kỳ bán ra. Tất cả biểu hiện cho một sự thành công đáng kể của miền Nam trong việc xây dựng một quốc gia dân chủ trong bước khởi đầu.

Dù an ninh vãn hồi, nhưng chiến tranh thay đổi bộ mặt nông thôn, dân chúng bỏ làng ra thành phố mưu sinh, người ở lại cũng không thể sống bằng canh nông, chương trình cấp đất không tạo thu hút dân chúng hồi cư vì không hứa hẹn sẽ đem lại một cuộc sống sung túc. Binh lính VNCH vẫn chưa quen sử dụng vũ khí hiện đại của Hoa Kỳ nên hiệu năng tác chiến vẫn chưa đạt được, trong khi tỷ lệ đào ngủ còn cao. Sự tàn bạo của chiến dịch Phượng Hoàng tạo thuận lợi cho MTGPMN chiêu phục thêm được nhiều du kích quân.

Tháng Ba năm 1970, Nixon công bố đã có nhiều diễn tiến tốt đẹp trong chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh và rút thêm 15.000 quân nhân để tìm hậu thuẫn nơi phe phản chiến. Thực ra, hoà đàm không chuyển biến làm Nixon lo âu nhiều hơn. Trong khi phong trào phản chiến ngày càng mạnh, nên tháng 4 Thượng Viện ra cảnh báo về tình hình nghiêm trọng và yêu cầu Tổng Thống kết thúc chiến tranh. Một cơ hội vãn hồi hoà bình cho Việt Nam đến, không phải xảy ra tại Việt Nam mà tại Campuchia.

Tấn công Campuchia.


Thủ tướng Lon Nol đảo chính Hoàng thân Norodom Sihanouk vào ngày 18 tháng 3 năm 1970. Đến nay vẫn chưa xác định được là có CIA nhúng tay trong vụ này không. Hoa Kỳ thấy có thuận lợi để tấn công các cơ sở hậu cần của CSBV nằm trong lãnh thổ Campuchia. Không theo quan điểm của Bộ Quốc Phòng và Ngoại Giao, Nixon quyết định dùng bộ binh hành quân vào các khu vực biên giới Tây Nam Campuchia, không phải chỉ cách Sài gòn 70 cây số mà là toàn bộ các khu vực của MTGPMN chưa hề được phát hiện trước đây. Mục tiêu của đợt tấn công này là giúp cho VNCH đủ thời gian tập trung lực lượng cho chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh.

Ngày 1 tháng năm Hoa Kỳ mang 31.000 quân và VNCH mang 43.000 quân tấn công Campuchia. Do có mật tin tình báo mà các bản doanh của MTGPMN di chuyển trước, nên QLVNCH không thể nào tìm ra. Thành công của đợt hành quân này quá giới hạn; mức tử vong của Cộng quân là 2.000 và một số kho vũ khí căn cứ bị huỷ diệt. Phản ứng đầu tiên của CSBV là phải rút sâu hơn trong nội địa của Campuchia. Với vũ khí của CSBV và Trung Quốc cung cấp, lực lượng Khmer Đỏ có thêm phương tiện gia tăng kiểm soát nhiều các khu vực khác. Dĩ nhiên, các cuộc hành quân hỗn hợp này làm cho xung đột vốn dĩ lâu đời của Khmer Đỏ và chính quyền Campuchia trầm trọng hơn.

Thoạt đầu, dân chúng Hoa Kỳ tỏ ra đồng ý dè dặt về việc tấn công Campuchia. Trong một cuộc biểu tình của giới phản chiến tại khuôn viên Đại học Kent State, Ohio, Vệ Binh Quốc Gia đã nổ súng làm chết 4 và bị thương 15 sinh viên vào ngày 4 tháng năm 1970. Tình hình căng thẳng hơn khi 100.000 sinh viên liên tục biểu tình trước Toà Bạch Ốc. Trước áp lực nặng nề, Nixon tuyên bố sẽ chấm dứt tấn công Campuchia vào tháng 6. Nixon khó xử hơn bao giờ hết vì thấy rằng Hoa Kỳ không thể thắng, nhưng lại không muốn kết thúc và cũng không dám công khai thú nhận là thua.

Sau cuộc xâm lăng Campuchia, tinh thần dân chúng mệt mỏi và cho là một sai lầm đạo đức, nhất là khi các cơ quan truyền thông đồng loạt khai thác vụ tàn sát Mỹ Lai và Bí Mật Ngũ Giác Đài.

Pentagon Papers


Muà hè 1971, The New York Times phổ biến tài liệu gọi là Bí Mật Ngũ Giác Đài, Pentagon Papers, làm hoang mang dư luận. Tài liệu này do Daniel Ellsberg tổng hợp theo yêu cầu của Bộ trưởng Quốc phòng MacNamara. Ông cáo giác chánh sách tham chiến dựa trên quan điểm là do bị đe doạ nhiều hơn trên các nhận định quyền lợi thực tế. Các chính quyền Kennedy và Johnson thông báo tin tức sai lạc cho dân chúng và lý tưởng hoá về tầm vóc tham chiến tại Việt Nam.

Để đối phó với mặt trận truyền thông ngày càng gay gắt, Nixon phải xin lịnh Toà án ngưng công bố các tài liệu này, nhưng gặp thất bại. Nixon yêu cầu các giới chức an ninh hỗ trợ để chận đứng tình hình. Một mặt, ông cáo buộc Daniel Ellsberg bị bịnh tâm thần; mặt khác, ông dùng các thủ thuật bất hợp pháp như tổ chức đánh cắp tài liệu mật, nghe lén, theo dõi thư tín và đời tư các người liên quan.

Quốc Hội ý thức hơn về tầm vóc vấn đề và theo dõi các hoạt động của Tổng Thống. Tháng tư và năm có hàng trăm ngàn dân phản chiến tham gia biểu tình và có vài thành quả nhất định. Dù các đài truyền hình ít đưa tin về các hoạt động phản chiến hơn, nhưng các bất ổn tâm lý lan tràn.

Bất ổn tâm lý


Từ khi phát động chương trình Việt Nam Hoá chiến tranh, từ Tướng Tư lệnh Abhrams cho đến binh sĩ có cảm tưởng chung là mục tiêu cao cả của cuộc chiến đấu vì tự do đã mất đi. Vì chỉ còn chờ ngày hồi hương, nên họ mang tâm trạng phòng thủ và bất ổn tinh thần.

Tinh thần xuống cực thấp qua việc sử dụng ma túy. Theo một ước lượng, có khoảng 40.000 binh sĩ Hoa Kỳ lâm cảnh nghiện ngập. Các vấn đề phân biệt màu da và bất tuân thượng lịnh trở nên nghiêm trọng hơn. Hậu quả chính trị của vấn đề càng nghiêm trọng, khi có tin một số tướng lãnh VNCH cũng tham gia việc mua bán ma túy.

Ngay khi còn ở Việt Nam, binh sĩ Hoa Kỳ không thể suy đoán hết về các diễn biến của các phong trào phản chiến. Lúc hồi hương, họ càng gặp khó khăn trong việc tái hội nhập xã hội và nhận ngay ra các bất ổn tâm lý cá nhân, "họ không thể tập trung, lo sợ trước bóng tối như trẻ con, thường bị mệt mỏi nhanh, ác mộng thường xuyên, phản ứng quá mức trước tiếng động không bình thường, đột qụy trước trong cơn giận dữ hay xung động."

Các chứng bịnh tâm thần kéo dài không thể trị hết làm cho nhiều người thất nghiệp, phạm pháp và vào tù. Trong chiến tranh, họ được ca ngợi là anh hùng, khi hồi hương họ mới nhận ra mình là một phương tiện cho một chính sách thất bại. Chính quyền không quan tâm giải quyết các vấn đề tâm lý cá nhân cũng như gia đình. Họ mang tâm trạng làm điều vô ích cho kẻ vô ơn.

Tinh thần binh sĩ VNCH cũng sa sút vì mặc cảm bị Hoa Kỳ bỏ rơi và phải tự chiến đấu trong trong hoàn cảnh thiếu yểm trợ. Khi Quốc Hội cấm binh sĩ Hoa Kỳ hành quân trên lãnh thổ Lào, QLVNCH gặp vấn đề trầm trọng hơn, mà thảm bại của Hành quân Lam Sơn 719 là thí dụ chính.

Mục tiêu Hành quân Lam Sơn 719 nhằm phả huỷ các đường hậu cần, buộc CSBV trở lại hoà đàm khi nhận ra được khả năng thiện chiến của QLVNCH. Do mật tin của các cơ quan tình báo mà mọi kế hoạch đều bị CSBV phát hiện và kết quả là QĐNDVN đã gây thảm bại nặng nề cho QLVNCH. Nếu không có các cuộc oanh tạc của Hoa Kỳ yểm trợ vào giờ chót, thì tầm vóc thiệt hại càng thảm khốc hơn.

Con số thương vong của QLVNCH lên tới 8.483 chết, 12.420 bị thương, 691 mất tích. Quân đội Mỹ có 215 chết, 1.149 bị thương, 38 mất tích, 168 trực thăng bị bắn rơi và 618 chiếc khác bị bắn; QĐNDVN bị thương vong là 2.163 chết, 6.176 bị thương; các số liệu đều là ước đoán.

CSBV và MTGPMN trong tiến trình Việt Nam Hoá chiến tranh.


Tổng công kích Tết Mậu Thân mang lại thành công về ngoại vận cho CSBV và MTGPMN, nhưng là một thất bại quân sự nặng nề và hiệu năng tác chiến trở nên cực kỳ suy yếu. Chiến dịch tấn công sang Campuchia và Chương trình Phượng Hoàng của QLVNCH làm cho CSBV chỉ duy trì thế thủ; MTGPMN cần có thời gian để phục hồi và không còn đánh phá mạnh ở mức độ địa phương.

Nhưng tiến trình Việt Nam Hoá làm thay đổi tình hình; Quân lực Hoa Kỳ không thể phát triển được nữa khi quân số đã lên đỉnh điểm và QLVNCH khó khăn hơn khi phải tự đảm nhận các cuộc hành quân. MTGPMN và CSBV nhận ra rằng đã đến lúc phải phản ứng trước tình hình thuận lợi, nghĩa là phải công kích đối phương nhiều hơn, kể cả ngoại vận, cho dù thực lực đang suy giảm.

Thực ra, nỗ lưc kiện toàn cơ sở và tăng cường tiềm lực không gặp trở ngại vì CSBV nhận nhiều viện trợ của Liên Xô, Trung Quốc và các nước thuộc khối Đông Âu trong các lĩnh vực phòng không, xây dựng, kỹ thuật và huấn luyện. Theo một ước lượng, CSBV nhận viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc khoảng 7 tỷ Đô la, và riêng Trung Quốc mỗi năm khoảng 200 triệu Đô la về trang bị vũ khí nhẹ.

Sau khi Hồ Chí Minh chết vào năm 1969, đấu tranh giành độc lập dân tộc, chống Mỹ xâm lược và thống nhất đất nước là mục tiêu cao cả của CSBV. Để đạt mục tiêu này, Lãnh đạo Đảng Lao Động ý thức được các tác động chuyển biến của Việt Nam Hoá chiến tranh. Vào tháng giêng 1970, họ thay đổi chiến lược bằng cách sử dụng Hoà đàm Paris là một trận tuyến mới, mà trước đây họ xem là một công cụ tuyên truyền.

Vùng châu thổ sông Cửu Long, một khu vực đông dân và nhiều luá gạo, có ý nghĩa chiến lược, nên MTGPMN đã tăng cường mọi biện pháp để bám khu vực. Hành quân tấn công sang Campuchia của QLVNCH đã làm phân tán sức bảo vệ, nhưng sau đó đành phải rút về để bám đất và giữ dân.

Điểm ngạc nhiên nhất là đến giữa năm 1971, tiềm năng chiến đấu của hai bên đều suy yếu, một tình trạng bất phân thắng bại, không bên nào chứng tỏ có ưu thế quân sự để có thể chiến thắng. Thuận lợi nhất cho CSBV là Hoa Kỳ bắt đầu rút quân theo lịch trình, cứ sáu tháng là có 50.000 binh sĩ hồi hương.

Thỏa ước thương mại để cải thiện bang giao


Nga-Hoa đang nỗ lực cải thiện bang giao với Hoa Kỳ để có nhiều thoả ước thương mại và giải giới vũ khí. Để đánh đổi mặc cả này, cả hai sẳn sàng gây áp lực Hà Nội trong việc mưu tìm một giải pháp hoà bình. Dù xung đột có vũ trang tại biên giới Nga - Hoa vào mùa hè 1969 tại vùng Ussuri cũng không làm cho tình hình bang giao của Việt Nam với Trung Quốc và Liên Xô xấu hơn.

Chuyến đi bí mật của Kissinger vào ngày 9 tháng 6 năm 1971 tại Bắc Kinh là để mở đường cho chuyến thăm viếng chính thức của Nixon vào ngày 21 đến 28 tháng 2 năm 1972. Triển vọng tái lập bang giao Hoa - Mỹ tạo bất lợi cho Hà Nội, vì một trong những điều kiện tiên quyết mà Kissinger đặt ra cho Bắc Kinh là tạo áp lực cho Hà Nội phải đàm phán. Lo sợ trước chuyển biến này, Phạm Văn Đồng sang Bắc Kinh gặp Mao Trạch Đông tìm cách ngăn trở.

Mao phản bác yêu cầu của Phạm Văn Đồng bằng một hình ảnh bóng bẩy: “Chổi của Trung Quốc quá ngắn không thể nào quét sạch lính Mỹ tại Đài Loan, chổi của các Đồng chí ở miền Bắc còn ngắn hơn, thì làm sao quét sạch miền Nam.“

Bắc Kinh chống đề nghị này là một thất bại cho Hà Nội. Nhiều tư liệu giải mật về sau cho thấy, dù viện trợ cho Bắc Việt tối đa, nhưng Trung Quốc không hề tin CSBV sẽ chiến thắng.

Bảng Tuyên bố chung Thượng Hải vào ngày 28 tháng 2 mở đầu giai đoạn bang giao mới giữa hai nuớc, mà mục tiêu chung là xây dựng một cấu trúc về hoà bình và công lý cho thế giới (the goal of building a world structure of peace and justice). Nội dung không đề cập đến các dị biệt ý thức hệ hay giải quyết các vấn đề Đài Loan, Việt Nam và Bắc Hàn, nhưng là một thay đổi quan trọng về thế giới quan về hợp tác.

Từ quan điểm của một vị Tổng Thống chống Cộng cực đoan, Nixon chuyển sang lợi dụng các xung đột Nga-Hoa hầu tìm một cấu trúc mới cho chính trị thế giới, mà cũng không quên quyền lợi chính của Hoa Kỳ. Giải pháp cho vấn đề Việt Nam tất nhiên bị ảnh hưởng trong sự thay đổi này.

Đợt tấn công muà hè 1972


Bất chấp thành công của Nixon trong chuyến Hoa du và đợt vận động tranh cử tại Hoa Kỳ vừa kết thúc, CSBV mở một đợt tấn công miền Nam vào mùa hẻ năm 1972 với 120.000 quân qua ba ngả phi quân sự, vùng cao nguyên và biên giới Campuchia, lần này có trang bị nhiều chiến xa tối tân của Liên Xô. Vào thời điểm này, Hoa Kỳ chỉ còn 6.000 binh sĩ chiến đấu trong tổng số 95.000 quân. CSBV tấn công năm tỉnh phiá Bắc, khởi đầu là Quảng Trị, rồi đến Komtum thuộc cao nguyên, với hy vọng là cắt đôi miền này, và điểm cuối cùng là biên giới Tây Nam, cách thủ đô Sài gòn 70 cây số. Tổng Thống Thiệu phải ra lịnh cứu nguy các thành phố và tạo vòng đai an toàn cho dân chúng.

Để làm cơ sở bao vây Sài Gòn, MTGPMN đã bắt đầu kiểm soát vùng châu thổ sông Cửu Long; tấn công này làm cho tinh thần chiến đấu của QLVNCH lung lay vì thiếu yểm trợ.

Nixon kiên quyết không bỏ rơi miền Nam và không thể chịu thất bại trong năm tranh cử khi ông đưa ra cuộc hành quân Linebacker I vào ngày 8 tháng năm. Ông quyết định phong toả hải cảng Hải Phòng và mở các đợt không kích tàn bạo nhất, cho dù các chuyên gia có cảnh báo về hậu quả nghiêm trọng của quyết định "điên khùng" này.

Lập luận chung là ai cũng sợ Hoa Kỳ bị trả đũa; để tỏ tình đoàn kết với CSBV, Trung Quốc sẽ trực tiếp can thiệp và Liên Xô sẽ cắt đứt ngoại giao với Hoa kỳ. Nixon bất chấp cảnh báo này và cho ném 112.000 tấn bom xuống miền Bắc.

Điểm ngạc nhiên là Liên Xô phản ứng yếu kém khi một chiếc hạm của Liên Xô bị phá hủy ở hải cảng Hải Phòng. Sau đó, Leonid Breschnew tiếp Nixon vào tháng năm với nghi lễ trang trọng dành cho một quốc khách. Trung Quốc cũng tỏ ra không gay gắt trước những thiệt hại nặng nề của miền Bắc. Dù Thượng Viện nổi giận, nhưng công luận Hoa Kỳ tỏ ra đồng thuận với việc ném bom miền Bắc, vì dẫu sao cũng ít gây hậu quả tệ hại hơn là hành quân bằng bộ binh. Nixon nhận nhiều ủng hộ chính trị hơn trong thời gian này.

Cuộc hành quân muà hè 1972 là một thất bại cho Hà Nội; vì mọi hoạt động hậu cần bị tê liệt và với trên 100.000 quân của QĐNDVN bị thiệt mạng cùng 700 xe tăng Liên Xô bị tiêu hủy, trong khi quân của VNCH tử vong khoảng 25.000. Chua chát nhất là Liên Xô đã cắt giảm viện trợ, còn Trung Quốc gây sức ép để buộc ngừng chiến đấu. Hà Nội đang trong tình trạng hoàn toàn kiệt quệ mọi mặt và nhận ra rằng không thể kéo dài chiến lược vừa đánh vừa đàm, vì thiệt hại nhiều hơn trong khi Hoa Kỳ còn tiếp tục oanh tạc; dù Đảng Dân Chủ của McGovern có thắng cử, thì tình hình cũng không thể thuận lợi hơn.

Ngược lại, vì đang được dân chúng ủng hộ, nên Nixon và Kissinger nhận ra một lối thoát trong danh dự cho Hoa Kỳ đã đến. Dù Hoa Kỳ vẫn tiếp tục hỗ trợ cho miền Nam, nhưng Nixon thấy không thể kéo dài mưa bom và áp lực phản chiến trong nước lên đến đỉnh điểm. Theo công luận thì những thuận lợi về việc xây dựng nền tảng dân chủ của VNCH cũng như triển vọng thành công trong chương trình Việt Nam Hoá không còn nửa.

Cả Hoa Kỳ và CSBV cùng nhận định là phải trở lại hoà hội Paris trong một thái độ nghiêm chỉnh hơn.

Hiệp Định Paris


Các cuộc hoà đàm chính thức tại Paris khởi đầu từ 10.5.1968 trong thời Johnson, nhưng vì có quá nhiều dị biệt nên không đạt kết quả. Từ 4.8.1969 Kissinger đã có nhiều mật đàm với Lê Đức Thọ và cũng không có tiến triển. Thực ra, vị thế đàm phán của Kissinger kém hơn CSBV, khi ông đòi hỏi hai bên cùng rút quân. Lúc này, Hoa Kỳ chỉ còn 27.000 binh sĩ và phương tiện duy nhất là tiếp tục đe doạ không kích.

Cuối cùng, qua hai cuộc thương thảo 26 tháng 9 và 10 tháng 10 năm 1973, cả hai bên đạt đến một thoả hiệp chung: CSBV đồng ý cho chế độ VNCH tồn tại và thành lập một Uỷ Ban Quốc Gia Hoà Giải và Hoà hợp Dân tộc gồm có đại diện VNCH, MTGPMN và các thành phần thứ ba cùng làm việc chung. Mục tiêu của UB là chuẩn bị cho cuộc phổ thông đầu phiếu toàn quốc. Cùng với nỗ lực này là một thoả ước đình chiến và trao trả tù binh cho các bên liên quan. Ủy ban Quốc tế Kiểm soát Đình chiến sẽ hỗ trợ cho hai miền trong tiến trình này.

Một bất ngờ trong lúc thương thảo cho Kissinger là gặp phản ứng cực kỳ mãnh liệt của Tổng Thống Thiệu. Ông thấy nguy cơ sống còn cho chế độ nên không thể ký hoà ước. Kissinger nhận ra rằng vấn đề không còn phải là chuyện soạn thảo các điều kiện rút quân hay hoà giải mà sự dị biệt nền tảng trong quan điểm đấu tranh. Miền Nam không muốn mất vào tay Cộng Sản và cần có một phương cách để bảo đảm cho chiến thắng. Qua hình thức ký kết này Hoa Kỳ cũng sẽ không hỗ trợ gì đặc biệt hơn cho VNCH.

Kissinger nổi giận vì các mật đàm giữa Hà Nội và Washington đều không đạt kết quả, nhất là không làm cho Tổng Thống Thiệu tin tưởng thiện chí của Hoa Kỳ. Dù Kissinger dấu nhẹm mọi tin tức về tiến trình đàm phán, tình báo của Tổng Thống Thiệu cũng tìm ra được nội dung các điều kiện, nhất là Kissinger cũng sẽ không thương thảo với Tổng Thống Thiệu, mà chỉ với MTGPMN; chỉ với lý do này cũng đủ làm cho Tổng Thống Thiệu từ chối ký kết hoà ước.

Tình thế khó khăn hơn, nhưng Kissinger vẫn hy vọng tìm ra một thoả hiệp. Ngày 19 tháng 7 năm 1972 ông gặp lại Lê Đức Thọ để thương thuyết. Đến ngày ngày 31 tháng 10 là ngày trước ngày bầu cử Tổng Thông một tuần, ông tuyên bố: “Hoà bình đang ở trong tầm tay“ (“Peace is at hand”). Đây là một kết luận vội vàng gây nhiều hậu quả tai hại, trong khi ông không tham khảo ý kiến của Tổng Thống Thiệu cũng như Nixon. Nixon thú nhận là những lo âu của Tổng Thống Thiệu là hợp lý và nếu ông thắng cử thì cơ hội cho một hoà ước thuận lợi hơn. Kissinger cũng không thể lưòng được là 61% dân chúng ủng hộ Nixon thắng cử, MacGovern thua đậm là một thành tích hiếm thấy cho Nixon.

Sau khi thắng cử vào ngày 7 tháng 11 năm 1972, Nixon bày tỏ thiện chí ủng hộ miền Nam. Ngay sau cuộc hành quân Enhence Plus, ông quyết định trao cho miền Nam một số lượng vũ khí quan trọng. Đáng kể nhất trong đợt viện trợ này là 600 máy bay, trong đó hơn 200 phản lực chiến đấu và oanh tạc cơ, hơn 300 trực thăng, máy bay vận tải, thám thính. Tổng số máy bay VNCH lên đến 2.075 chiếc và không lực đứng thứ 4 trên thế giới về số lượng.

Ngoài ra, trong các mật thư với Tổng Thống Thiệu, Nixon còn cam kết là dù có ngưng bắn, ông sẽ tiếp tục ném bom miền Bắc khi CSBV vi phạm thoả ước. Cả Nixon và Kissinger về sau cũng không hề nhắc đến mật ước này, chỉ có Tổng Thống Thiệu gián tiếp công bố khi lưu vong.

Muốn chứng tỏ không bỏ rơi miền Nam, một lần nữa, Nixon kiên quyết tiếp tục ném bom Hà Nội và Hải Phòng qua cuộc hành quân Linebacker II. Cuộc không kích kéo dài từ 18 cho đến 29 tháng 12 năm 1972, ngoại trừ đêm Giáng Sinh. Mưa bom này làm kinh động công luận thế giới, cả Đức Giáo Hoàng Paul VI cũng lên tiếng phản đối Nixon. Khoảng 2000 thường dân chết và 1500 bị thương, nhưng thiệt hại các khu dân cư quá nặng nề.

Tại Paris, Kissinger buộc Hà Nội trở lại đàm phán. Hà Nội hoảng sợ phải trở lại bàn hội nghi; VNCH lên tinh thần hơn, tin tưởng là mật ước của Nixon sẽ tiếp tục không kích miền Bắc là khả thi và cũng đồng ý thương thuyết. Cuối cùng, Hiệp Định Chấm dứt Chiến tranh và Vãn hồi Hoà bình được ký vào ngày 27 tháng giêng năm 1973 với bốn bên là CSBV, VNCH, MTGPMN và Hoa Kỳ.

Các điểm chính trong Hiệp Định Paris là ngưng mọi cuộc giao tranh, Hoa Kỳ rút quân trong vòng 60 ngày ra khỏi Việt Nam; QĐNDVN được ở lại miền Nam; bù lại Hà Nội trao trả các tù binh Hoa Kỳ. UBQGHGHHDT sẽ làm việc trong khi VNCH và MTGPMN cùng hoạt động trên lãnh thổ của mình. Khu phi quân sự là một lằn ranh tạm thời và không được quốc tế công nhận theo luật quốc tế. Trong một mật ước với Hà Nội, Nixon hứa sẽ viện trợ tái thiết cho CSBV và sẽ không hành quân trên lãnh thổ Lào và Campuchia.

Hiêp Định Paris không phải là một thoả hiệp giữa hai phe thắng và thua, nhưng CSBV và MTGPMN có ba thắng lợi thuộc loại bất chiến tự nhiên thành:


* một là toàn bộ binh sĩ Hoa Kỳ ra khỏi Việt Nam;

* hai là công nhận sự hiện diện của 140.000 quân chính quy QĐNDVN ở miền Nam và chính phủ ”ma” MTGPMN;

* ba là quy chế khu phi quân sự sẽ không đuợc luật quốc tế công nhận và không ai sẽ can thiệp khi vi phạm.


Dù VNCH kiểm soát trên 50% dân chúng và 75% lãnh thổ, nhưng là một thất bại nặng nề khi ký kết, vì không có tiếng nói chính thức trong hội nghị. Hai mục tiêu chính của VNCH là duy trì binh sĩ Hoa Kỳ để tiếp tục hỗ trợ QLVNCH chiến đấu và phải trục xuất binh sĩ CSBV ra khỏi miền Nam đều không có kết quả.

Thắng lợi cho Hoa kỳ là mang binh sĩ hồi hương, một lối thoát danh dự, một thành quả của Nixon mà Kennedy và Johnson không đạt được. Nixon còn buộc Hà Nội phải công nhận chính phủ VNCH là một thực thể chính trị để đối thoại, làm cho CSBV phải từ bỏ yêu sách là một chính phủ liên hiệp không có chính quyền Thiệu tham gia. Nixon ý thức về khó khăn của việc thực hiện Hiệp Định Paris vì QĐNDVN còn đóng tại miền Nam và việc tiếp tục ném bom miền Bắc trong tương lai là khó khả thi.

Khi cải thiện bang giao với hai nước Nga-Hoa, Nixon và Kissinger đem lại ưu thế cho Hoa kỳ; vì mở rộng vị thế siêu cường, nên các áp lực quốc tế và quốc nội trong cách giải quyết vấn đề Việt Nam giảm đi.

Nixon vẫn còn lo âu về mật ước với Tổng Thống Thiệu. Kissinger, vốn dĩ không dành thiện cảm cho VNCH, nên cảm thấy nhẹ nhàng hơn và không quan tâm đến vận mệnh tương lai của miền Nam. Ông tiên đoán sẽ có một khoảng cách thích hợp cho việc đình chiến và sự sụp đổ của miền Nam. Khi đuợc hỏi miền Nam sẽ còn sống được bao lâu sau ngày ngưng bắn, ông trả lời: ”Nếu có may mắn chế độ Sài Gòn chỉ sống sót được trong vòng một năm rưởi.”

Quốc Hội và Watergate


Sau khi người lính cuối cùng rời khỏi Việt Nam và Hà Nội trao trả 580 tù binh thì chính giới Hoa Kỳ không còn lý do để ủng hộ cho VNCH. Dù có nhiều tin tức về vi phạm Hiệp Định Paris nhưng công luận không còn quan tâm. Hai khái niệm chính yếu cho Hoa Kỳ trong gia đoạn này là Hoà Bình và Danh dự.

Cuối tháng 7 năm 1973 Quốc Hội tìm cách hủy bỏ các quân viện cho chiến trường Đông Dương. Nixon phủ quyết quyết định của Quốc Hội, tình hình căng thẳng và không một thoả hiệp nào đạt được. Ngày 15 tháng 8 năm 1973 các cuộc ném bom trong phạm vi biên giới Campuchia dọc theo Nam Việt Nam kết thúc. Hoa Kỳ đã ném tổng cộng hơn 250.000 tấn bom xuống khu vực này, nhiều hơn số lượng bom trong Thế chiến thứ Hai, làm cho khoảng 7 triệu dân Campuchia phải chạy tỵ nạn.

Quốc Hội tìm mọi cách gây ảnh hưởng ngăn chận trong mọi tiến trình quyết định của Tổng Thống. Tháng 11 năm 1973 Quốc Hội biểu quyết luật War Power Act, quy định trường hợp can thiệp quân sự trong các xung đột quốc tế; Tổng Thống có quyền điều quân ra nước ngoài trong thời hạn 60 ngày; nếu Quốc hội không cho phép can thiệp, thì trong vỏng 30 ngày sau đó Tổng Thống phải rút quân. Do đó, thẩm quyền can thiệp quân sự của Tổng Thống trong tương lai bị hạn chế.

Biến động Watergate làm cho Nixon hoàn toàn bất lực.


Thông tin sai lạc và lạm quyền Tổng Thống quá mức lần lượt bị báo chí phơi bày, nên không còn được tín nhiệm Nixon; Tối Cao Pháp Viện đồng thanh quyết định Nixon phải trao các băng ghi âm các buổi nói chuyện tại văn phòng Bầu dục cho Uỷ viên Điều tra là Jaworski; Uỷ Ban Tư pháp của Hạ Viện truy tố Nixon vi phạm ba tội hình sự; toàn thể Hạ Viện và Thượng Viện đồng thanh chấp thuận tiến hành thủ tục huyền chức (Impeachment) Tổng Thống, một vụ việc chưa có tiền lệ.

Để tránh khỏi thủ tục này, ngày 2 tháng 8 Nixon tuyên bố từ chức và không nhận tội. Người kế nhiệm là Gerald Ford. Ông tuyên bố kế tục chính sách ngoại giao của Nixon và Kissinger vẫn nắm chức vụ Cố vấn An ninh Quốc gia đến cuối tháng 11 năm 1975. Trong thời gian này, các mật ước của Nixon hỗ trợ Tổng Thống Thiệu không ai biết tới, nhưng bất ổn xã hội tại miền Nam càng thể hiện trầm trọng hơn.

Bất ổn xã hội


Sau khi Hiệp Định Paris ký kết, cả hai phe Nam Bắc liên tục cáo giác nhau về các vi phạm ngưng bắn, cùng ngăn trở hoạt động của UBHG và gia tăng phương tiện kiểm soát lãnh thổ và dân chúng. Trong chiến dịch này QLVNCH chiếm lại được hơn 1000 làng xã. Thành quả này cũng là một thách thức mới vì QLVNCH còn phải đảm nhiệm thêm các công tác hành chánh địa phương và bình định nông thôn, vượt quá khả năng bảo vệ.

Quân số QLVNCH lên đến tên 1,1 triệu trong khi quân số của CSBV và MTGPMN có khoảng 300.000. Ưu thế quân số không tạo thắng lợi hơn cho VNCH vì 2/3 Quân lực phải lo cho việc kiểm soát lãnh thổ, trong khi đối phương chỉ cần có 10% lo chuyện phòng thủ.

Hà Nội kiên quyết kết thúc chiến tranh bằng chiến thắng quân sự. Để chuẩn bị cho đột tấn công mới, CSBV tập trung kiện toàn đường mòn Hồ Chí Minh; nhờ việc tiếp vận từ biên giới Hoa-Việt đến biên giới Miên-Việt hoàn chỉnh, nên chuyển chở vũ khí, nguyên liệu và quân dụng nhanh hơn. Trong năm 1974 CSBV tăng cường hoạt động trong các tỉnh thuộc khu phi quân sự và các tỉnh cao nguyên trong khi MTGPMN chiếm gần phân nửa vùng châu thổ sông Cửu Long.

Tình hình kinh tế của Miền Nam suy sụp trầm trọng. Viện trợ cắt giảm, khu vực cung ứng dịch vụ cho Quân đội Đồng minh không còn, làm mất đi gần 300.000 công việc và tỷ lệ thất nghiệp lên đến 40%. Đời sống công chức và binh sĩ gặp khó khăn khi giá lương thực tăng. Thực phẩm khan hiếm khi chánh phủ VNCH kiểm soát thị trường luá gạo và MTGPMN tìm cách bóp nghẹt các trục vận chuyển.

Quốc Hội chấp thuận viện trợ 700 triệu cho VNCH trong tài khoá năm 1975, sau khi trừ chi phí vận chuyển chỉ còn lại 300; hậu quả là QLVNCH không thể trang trải mọi quân phí. Chiến lược của QLVNCH là theo kiểu Mỹ, nên cực kỳ tốn kém, sử dụng số lượng vũ khi 17 lần hơn đối phương trong năm 1973, và 12 lần hơn trong năm 1974. Giảm quân viện làm tiêu hao tiềm năng chiến đấu và nhất là khi lương quân nhân không đủ sống. Ảnh hưởng này làm cho tỷ lệ đào ngũ lên cao, 240.000 người trong năm 1974, một kỷ lục chưa từng có.

Tình hình kinh tế càng khó khăn khiến cho dân thành phố, thành phần trí thức, kể giới làm giàu nhờ chiến tranh tỏ ra chống đối Tổng Thống Thiệu qua chương trình chống tham nhũng. Giới hữu sản bắt đầu chuyển tiền của và tìm cách định cư nước ngoài. Một niềm tin còn lại dành cho tất cả mọi người là: “Mỹ không thể bỏ Việt Nam“, nhưng càng ngày càng mơ hồ hơn vì thiếu cơ sở luận chứng.

Tất cả mọi người dân đều mong muốn có sự thay đổi phù hợp cho miền Nam, nhưng không ai có khả năng để thích nghi khi CSBV khởi động chiến dịch Hồ Chí Minh 1975.

Chiến dịch Hồ Chí Minh 1975


Hoa Kỳ rút quân và Nixon từ chức sau vụ Watergate là hai món quà vô giá dành cho CSBV. Gerald Ford không đủ tư thế và cũng không chống Cộng cuồng nhiệt như Nixon. Không còn cần Hiệp Định Paris, Hà Nội quyết định mở chiến dịch Hồ Chí Minh vào ngày 18 tháng 12 năm 1974 để tiến chiếm miền Nam.

Tháng 12 năm 1974, CS tấn công Đồng Xoài, Phước Long, tháng 3 năm 1975 tấn công Ban Mê Thuột. Tổng thống Thiệu quyết định bỏ ngỏ cao nguyên để cũng cố lực lượng cho vùng duyên hải và miền Tây. Quân đội triệt thoái khỏi Pleiku và Kontum gây hỗn loạn và nhiều người chết. Vì không còn ai lãnh đạo nên dân chúng và binh sĩ chạy thoát thân trên các “đại lộ kinh hoàng“ để lánh nạn nơi vùng duyên hải. Các trạm giao thông tắc nghẽn, quân nhu và vũ khí đều bỏ lại trên đường tháo chạy. 25 tháng 3 CSBV chiếm Huế và sau đó 30 tháng 3 Đà Nẳng thất thủ.

Ngày 4 tháng 4 Tướng Frederick Weygand, Tham mưu Trưởng Liên quân, còn đề nghị Gerald Ford nên tăng viện cho Việt Nam 722 triệu. Gerald Ford bác bỏ vì không thể tìm sự đồng thuận của Quốc Hội. Ngày 23 tháng 4 năm 1975 trước các sinh viên Đại học Tulane, New Orleans, đang hân hoan về tình hình thay đổi tại Việt Nam, Gerald Ford tuyên bố là: "Chiến tranh Việt Nam đã qua đi trong mối quan hệ với Hoa Kỳ" (The war is over as far as American is concerned). Hoa Kỳ đã học hỏi những sai lầm của mình; nhưng loại sai lầm nào thì ông không kể tới.

Thắng thế, Hà Nội quyết định tấn công Sài gòn và các tỉnh miền Tây. Ngày 21 tháng 4 Tổng Thống Thiệu trao quyền cho tướng Dương Văn Minh và lưu vong sang Đài Loan. Hy vọng cuối cùng cho người dân miền Nam là Tướng Minh sẽ có một cơ hội đối thoại với MTGPMN. Vì tương quan lực lượng không còn nửa nên Hà Nội quyết định không đối thoại và ngày 30 tháng 4 tiến chiếm Sài gòn. Ngày 1 tháng 5 tướng Minh tuyên bố đầu hàng.

Tình hình chuyển biến quá nhanh ngoài sự dự liệu của Đại sứ Hoa Kỳ Graham Martin. Ông bối rối trong việc tổ chức di tản cho 9000 nhân viên người Mỹ và khoảng 150.000 người Việt. Khi chiếc trực thăng cuối cùng rời khỏi Toà Đại Sứ, trang sử mới cho Việt Nam bắt đầu.

Ai thắng? Ai thua? Tại sao?


Tại sao Hoa Kỳ thua?


Hoa Kỳ thua vì phải trả 167 tỷ Đô la, kinh phí tổng cộng cho chiến cuộc và 58.000 binh sĩ hy sinh. Về đối ngoại, uy tín của Hoa Kỳ như một siêu cường không còn. Hậu quả là phong trào chống Mỹ tại châu Âu, vốn dĩ đã có sẵn, nay lên cực điểm; các nước chậm tiến không còn tin tưởng việc kết ước liên minh quân sự với Mỹ, mà ngược lại, xem là một tai hoạ. Về đối nội, chiến tranh đã đem lại một vết thương tinh thần, không phải chỉ riêng với các cựu chiến binh mà toàn dân tộc. Các giá trị cao cả mà người Hoa Kỳ đề cao và theo đuổi trước đây, nay được đặt lại nghiêm túc hơn để tìm một hướng đi mới làm hồi sinh dân tộc.

Các cuộc thảo luận tại Hoa Kỳ về cuộc chiến hầu hết tập trung vào khiá cạnh quân sự. Họ nêu lên ba luận điểm chính trong ba thời kỳ khác nhau và đi đến kết luận là Hoa Kỳ đã có nhiều cơ hội để thắng CSBV mà Hoa Kỳ không nhận ra hoặc không theo đến cùng.

** Một là khái niệm Counterinsurgency của Kennedy là một sách lược chống Cộng đúng đắn cho Việt Nam mà kinh nghiệm tại Mã Lai đã chứng minh thành công. Lý do hỗ trợ cho quan điểm này là thoạt đầu chính phủ Ngô Đinh Diệm được hai thành phần nông dân miền Nam và người Bắc di cư ủng hộ. Chính quyền có hiệu năng trong việc xây dựng đất nước, kết hợp các giáo phái và giải quyết xung đột điạ phương là thí dụ điển hình. Kinh tế trên đà phát triển trong một xã hội đang chuyển mình khi MTGPMN chưa có lý do để tuyên truyền là Mỹ xâm lược hay bom Mỹ phá hoại xóm làng. Chính sách gia đình trị cũng như kỳ thị tôn giáo của Tổng Thống Diệm chưa thành hình.

Kennedy không quan tâm kết hợp các thành quả xây dựng của VNCH trong công cuộc đấu tranh toàn diện, kể cả bằng quân sự để tiêu diệt CS còn trong thời kỳ phôi thai, mà chỉ gởi các cố vần quân sự là không đủ mạnh. Trở ngại chính một phần là do phản ứng đầy tự ái dân tộc của Tổng Thống Diệm, một phần do thiếu kiên quyết của Kennedy gây áp lực. Tổng Thống Diệm thực thi Quốc sách Ấp Chiến Lược có nhiều sai lầm, gây bất mãn cho nông dân và MTGPMN bắt đầu có cơ hội phát triển cơ sở.

** Hai là Johnson quyết định leo thang chiến tranh, nhưng ông lại áp dụng trong phạm vi giới hạn. Dị biệt quan điểm giữa các cố vấn dân sự và quân sự về sách lược đấu tranh làm cho Johnson thiếu kiên quyết. Ông chủ trương không gài mìn hải cảng Hải Phòng sợ làm chìm tầu Nga, luôn lo sợ là Hoa Kỳ có thể bị Trung Quốc và Nga trả đũa; sai lầm nhất của ông là không theo đánh đuổi VC qua bên kia biên giới của Campuchia và Lào, vì sẽ mở rộng cuộc chiến. Các biện pháp này Nixon thấy là đúng đắn và thực hiện về sau.

Giới chức quân sự tin là nếu Johnson oanh tạc các trục tiếp vận và phong toả các hải cảng miền Bắc mạnh hơn và tiến hành Việt Nam Hoá chiến tranh ở miền Nam vào cuối 1966, đó là cơ hội thích hợp nhất để thắng CSBV. Ngược lại, Johnson-McNamara cho là chiến thắng quân sự không là một giải pháp tối ưu như quan niệm cổ điển, mà nghĩ là xây dựng dân chủ miền Nam và không phá hủy miền Bắc là chính. Mục đích oanh tạc và đánh phá các căn cứ hậu cần để giảm mức độ xâm nhập của CSBV.

Năm 1967, mặc dù thực hiện chiến dịch Rolling Thunder và tăng quân lên 425.000 nhưng CSBV không chịu đàm phán, nên không có triển vọng kết thúc chiến tranh.

Sự hiện diện binh sĩ Hoa Kỳ tại miền Nam và các đợt không kích tại miền Bắc giúp cho CSBV có lập luận mạnh hơn để thu phục nhân tâm tại nông thôn cũng như các trí thức cảnh tả phương Tây về việc Hoa Kỳ xâm lăng VN, làm cho đấu tranh ngoại vận của Hoa Kỳ và VNCH thêm khó khăn.

** Ba là thành quả cuộc không kích Linebacker II của Nixon, đến nay vẫn còn là một bí ẩn. Tại sao Nixon không kéo dài oanh tạc trước sự nguy cơ sụp đổ của CSBV? Chiến thắng gần kề mà Nixon lại tạo cho CSBV cơ hội đàm phán và mua thời gian là sai lầm. Có quá nhiều cách giải thích về chuyện ngưng không tập này.

Dư luận thế giới kết án Hoa Kỳ nặng nề về mặt đạo đức và kêu gọi ngưng oanh tạc. Đó không phải là lý do chính mà Hoa Kỳ không tiếp tục không kích, mà là vì đã đạt được các mục tiêu. Oanh tac và phong toả hải cảng thành công làm cho các lực lượng phòng không BV phải thôi hoạt động.

Một lập luận khác cho rằng CSBV thắng lớn; làm Không Quân Hoa Kỳ thiệt hại nặng nề, nên không thể tiếp tục. Thực ra, chỉ có 15 B-52 và 12 phi cơ chiến đấu bị bắn hạ. Một lập luận khó thuyết phục.

Một nguồn tin khác cho là CSBV đầu hàng sau cuộc oanh tạc này. Ten Gunderson, một nhân viên FBI tiết lộ tin này và xác quyết là CIA nhẹm tin và đổi các nhân viên phụ trách sang các nhiệm sở khác. Theo ông, lý do của CIA là Hoa Kỳ đang trong tiến trình thương thuyết với Bắc kinh, kết quả ngoại giao với Bắc Kinh quan trong hơn là chiến thắng quân sự với Hà Nội. Nguồn tin này khó kiểm chứng và vẫn còn nghi ngờ.

Dù theo lối giải thích nào, thì Nixon cũng tỏ ra kiên quyết chống Cộng và có nỗ lực cuối cùng tạo chiến thắng cho Hoa Kỳ và VNCH.

Ba lập luận này khó thuyết phục vì mang giá trị cảnh báo hoặc giải thích một sự kiện đã rồi. Tại sao Kennedy không tiến hành chiến dịch Bình Đinh Nông Thôn và hành quân bộ binh ngay lừ lúc đầu mà Johnson đã phải làm về sau? Tại sao Johnson không tấn công sang Campuchia và Lào như Nixon? Tại sao Johnson và Nixon luôn lo sợ Trung Quốc và Nga Xô trực tiếp can thiệp? Một kịch bản đã không xảy ra. Tìm các bằng chứng cho các lập luận này là bất khả.

Vấn đề có thể sáng tỏ hơn nếu tìm hiểu tại sao dân tộc Việt Nam và VNCH thua và CSBV thắng.

Tại sao VNCH thua?


Việt Nam Hoá chiến tranh đòi hỏi điều kiện đầu tiên là miền Nam phải có một chính quyền ổn định mọi mặt, nhưng tất cả còn đang trong thời xây dựng ban đầu. Chính trị Việt Nam bất ổn liên tục và tình trạng tiến thoái lưỡng nan của chương trình Việt Nam Hoá là hai nghịch lý song hành: VNCH sẽ còn nắm quyền cho đến khi nào còn được Hoa Kỳ ủng hộ, nhưng khi VNCH còn tiếp tục nắm quyền thì chương trình Việt Nam Hoá sẽ thất bại.

Ngoài vấn đề an ninh, những vấn đề cấu trúc cơ bản của xã hội miền Nam vẫn chưa giải quyết, đặc biệt nhất là khiá cạnh chính danh cho chế độ. Tổng Thống Thiệu thắng cử độc diễn năm 1971 với 90% số phiếu ủng hộ, nên không tạo uy tín lãnh đạo. Bộ máy hành chánh, cơ cấu quân đội và hệ thống kinh tế chưa tạo ra được một ý thức về quyền lợi quốc gia đủ mạnh. Tinh thần của đa số dân chúng là quá mệt mỏi vì chiến tranh và không quan tâm đến chính sự. Nhưng trầm trọng nhất là vấn đề tham nhũng, đa số mong biến thành quyền lợi cá nhân và gia đình khi đóng góp cho chế độ. Khi Việt Nam Hoá chiến tranh cũng có nghiã là dân thành phố không còn tiếp tục làm giàu qua cơ chế viện trợ Mỹ; tinh thần ủng hộ cho chính quyền cũng suy giảm theo

Khả năng và bản lĩnh của chính giới miền Nam là khía cạnh quan trọng nhất. Đa số là được Pháp đào tạo qua hai lĩnh vực quân đội hay hành chánh, nay họ tiếp tục hành sự trong tinh thần lệ thuộc viện trợ Mỹ, nên không thể suy nghĩ độc lập và đủ bản lĩnh tìm một lối đi tương kế tựu kế cho đất nước trong gọng kiềm của lịch sử. Thiểu số liêm chính, có khả năng, tinh thần quốc gia và kiên cường thì không được chế độ trọng dụng, nhất là có cơ hội hợp tác với Mỹ. Cùng một hoàn cảnh đất nước bị chia cắt mà các chính khách của Tây Đức và Nam Hàn đem lại một số thí dụ khác biệt. Tinh thần chiến đấu của QLVNCH sẽ ra sao khi được tiếp tục quân viện đầy đủ, hoặc không bị lãnh đạo bỏ chạy, vấn đề đến nay còn gây nhiều tranh cải. Nhưng tấm gương bất khuất và hào hùng của các tướng lãnh và chiến sĩ luôn được hậu thế tri ân nhân ngày 30 tháng 4.

Tại sao CSBV thắng?


Bất ổn nội tình và truyền thông hỗn loạn của Hoa Kỳ là các lý giải chính.

CSBV thua nặng trong chiến cuộc Mậu Thân nhưng truyền thông Hoa Kỳ lầm lạc khi đề cao khả năng chiến đấu. Qua màn ảnh truyền hình người dân nghĩ rằng nguy cơ cho miền Nam đã đến khi Công quân vào tận đến Toà Đại Sứ Hoa Kỳ và các thành phố lớn. Phạm vi hành động của Nixon càng thu hẹp khi phải đề ra kế hoạch tuần tự rút quân để thu phục cảm tình của giới phản chiến. Thắng lợi trong việc cải thiện bang giao Nga - Hoa làm cho các lo sợ của Hoa Kỳ phải trực tiếp đối đầu không còn. Áp lực quốc tế giảm đã đem lại một suy nghĩ mới: Thuyết Domino không còn có giá trị thuyết phục cho Hoa Kỳ phải tiếp tục kết ước tại Việt Nam và Đông Nam Á. Cuối cùng, hậu quả của Watergate là một bất hạnh cho định mệnh chính trị của Nixon, nhưng là một đại bất hạnh cho sinh mệnh toàn dân miền Nam.

Sách lược đấu tranh và nội tình của CSBV cũng mang lại các lý giải khác.

Ý chí xâm chiếm miền Nam là động cơ duy nhất. So với các nước cùng cảnh ngộ như Đông Đức và Bắc Hàn, hai nước này không tiến hành đấu tranh giải phóng Tây Đức và Nam Hàn đang bị Hoa Kỳ kiềm kẹp.

Đối với dư luận quốc tế, CSBV đánh Đế quốc Mỹ cho đến xương máu của người Việt Nam cuối cùng thay cho Trung Quốc và Liên Xô, đó là một lý tưởng cao cả như đến nay mà họ còn hãnh diện. Chính sách đu dây ngoại giao của CSBV trong tình huống xung đột Nga - Hoa là một thành công đặc biệt; không có nguồn lực này, chiến thắng của CSBV là chuyện không tưởng. Điểm đặc biệt là, dù lệ thuộc nặng nề về viện trợ vũ khí của khối CS, nhưng CSBV lại hoàn toàn hành sử độc lập trong mọi lĩnh vực hoạt động tác chiến, không như VNCH bị lệ thuộc vào mọi sự chỉ đạo cụ thể của Hoa Kỳ.

Đối với đồng bào, CSVN dùng chiêu bài giải phóng dân tộc qua lý tưởng đấu tranh cách mạng, chống bạo quyền miền Nam và giặc Mỹ xâm lăng. Họ không có các lập luận kinh điển nhằm bảo vệ công nhân bị bóc lột trong một xã hội công nghiệp, mà sách động quần chúng kết hợp đấu tranh chính trị và quân sự như là một chiến lược chung, đôi khi qua các liên hệ với thân nhân, đó cũng là một cách ràng buộc để làm cho người dân đi theo CS. Kết hợp uyển chuyển này làm cho CSBV thành công trong mặt trận tình báo và nội tuyến.

Đối với Đảng viên, nghệ thuật lãnh đạo của Đảng là đồng hoá vận mệnh của ĐCSVN, dân tộc, cá nhân, gia đình, tập thể và xã hội, tất cà hoà nhập trong một lý tưởng đấu tranh chung; nên tất cả phải tuân phục kỷ luật và có tinh thần hy sinh; mà cao cả nhất là được hy sinh cho Đảng và tổ quốc, vì đó là hạnh phúc của con người. Kết quả của sự tuyên truyền này là 1 triệu 1 thanh niên miền Bắc nằm xuống, 300.000 mất tích và 600.000 bị thương và thế hệ thanh niên miền Bắc cho chiến dịch 1975 là thế hệ cuối cùng.

Cơ chế lãnh đạo của ĐCSVN chặt chẽ nên tạo ra một hình ảnh chung là đoàn kết, nghiêm mật và kiên cường. Hồ Chí Minh được thần thánh hoá là hình ảnh cao đẹp của vị cha già dân tộc; sách vở phương Tây cũng phụ hoạ theo lập luận này khi so chiếu với Bảo Đại và Ngô Đình Diệm. Ngày nay, vô số tư liệu cho thấy nội bộ của ĐCSVN thanh toán nhau đẩm máu để tranh giành quyền lực, nên chuyện hèn với giặc và ác với dân không còn gây ngạc nhiên. Thần tượng sụp đổ khi đời tư và công của Bác Hồ được phơi bày. Bác Hồ nào đã chết trong quên lãng vào năm 1932 và còn Bác Hồ nào còn được tiếp tục sùng bái trong lăng Ba Đình, các sử gia thiếu can đảm làm sang tỏ.

Tại sao dân tộc Việt Nam thua?


Toàn dân phải trả một cái giá quá mắc cho chiến thắng của ĐCSVN là vì có khoảng hơn 1,5 triệu cho đến 2 triệu người chết và 300.000 người mất tích.


Người dân Miền Bắc thua mà không biết, vì lý tưởng cao đẹp bị lừa dối. Đau xót nhất là những người nằm xuống, không còn có cơ hội biết đưọc sự thật về ý nghiã của cuộc chiến tranh giải phóng.

Người dân miền Nam biết mà vẫn thua, vì không tránh khỏi các biện pháp tiến nhanh, tiến mạnh lên XHCN;

nông dân thua vì bị tập thể hoá nông nghiệp;

doanh nhân thua vì bị cải tạo tư sản;

dân thành phố thua vì phải đi xây khu kinh tế mới;

trí thức thua vì chiến dịch bài trừ văn hoá Mỹ Ngụy; thảm kịch học tập cải tạo và thuyền nhân là hai thí dụ bi thương của phe thua cuộc.

Binh sĩ thua vì là nạn nhân của một chính sách sai lầm và còn chịu thêm hai cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và Trung Việt; người nằm xuống không được tưởng niệm và người còn sống không được ghi công.

Thế hệ hậu chiến thua vì không có kiến thức về lịch sử đấu tranh của dân tộc, sách về chiến tranh chống Mỹ bị bóp méo và chiến tranh Trung Việt ghi lại có 11 dòng để truyền lại cho hậu thế. Đa số không được học tập các giá trị dân chủ, nên vô cảm trước các chính sự trong nước và chính biến ngoài nước.

Cuối cùng, những người thành tâm hoà giải quốc gia và hoà hợp dân tộc cũng thua, vì không có chỗ đứng trong lòng dân tộc.


Dân tộc Việt còn thua đến bao giờ và làm gì?


Không ai biết rõ còn bao lâu nữa và phải làm gì cụ thể để thay đổi. Có còn chăng là sự tỉnh thức trong chúng ta. Đó là một khả năng tự soi sáng và tự quyết định về vận mệnh của đất nước mà toàn dân Đông Âu là một thí dụ. Tỉnh thức thân phận là vấn đề kiến thức; xác định ý muốn để thay đổi là vấn đề quyết tâm. Nếu còn sống trong vô cảm, mang tâm trạng nô lệ tự nguyện hay còn Đảng còn mình và chờ đợi hạnh phúc giả tạo do Đảng, Trung Quốc, Hoa Kỳ và cộng đồng quốc tế ban phát, thì người dân sẽ còn tiếp tục thua trong đau khổ. Không ai có phép lạ để chuyển hoá đất nước thay cho chúng ta. Vấn đề là sự chọn lựa.

Chúng ta cùng giúp nhau tỉnh thức trong tình tự dân tộc là một hy vọng khởi đầu: Đất nước đang nguy cơ hơn bao giờ hết, sức mạnh của toàn dân sẽ đem lại giải pháp và quyền dân tộc tự quyết là phương tiện. May ra một phép lạ nào đó cho đất nước sẽ đến sau.