Đất Nước Việt Nam Mất Dần Vào Tay Tầu Cộng

Chu Tất Tiến

Từ mấy thập niên nay, người dân Việt đã biết rằng giải đất quê hương thân yêu hình chữ S sẽ mất vào tay Tầu Cộng, qua việc đảng Cộng Sản Việt Nam tán tận lương tâm dâng đất cho Tầu Cộng để đổi lấy sự bình ổn chính trị của chúng, nói rõ ra là để cho bọn chúng được yên tâm mà tận hưởng giầu sang, phú quý cướp được từ dân chúng. Nhiều dư luận cho rằng, qua thỏa ước Thành Đô, qua các hiệp ước ký ngầm hoặc công khai với Bắc Kinh, Việt Nam sẽ trở thành một quận huyện của Tầu vào năm 2020. Tuy nhiên, không ai ngờ rằng việc đó đến sớm hơn dự định.

Hiện nay, nhiều vùng trên đất Việt Nam đã hoàn toàn thuộc Tầu. Các phu phố rặt Tầu đã mọc lên khắp nơi, từ Thác Bản Giốc, Móng Cáy, xuống miền Trung, khu Gia La-Tân Rai, tới tận Hà Tiên, đâu đâu cũng có những khu phố Tầu, mà người dân ở đó phải nói tiếng Tầu, dùng căn cước Tầu, xài tiền Tầu. Ngay tại Bình dương sát Saigon, năm 2011, Tầu cộng đã dựng nguyên môt thành phố đặt tên là Đông Đô Đại Phố rộng 26 mẫu tây, với số vốn 300 triệu đô la, để phổ biến sinh hoạt rặt Tầu, nghĩa là áp dụng văn hóa Tầu, chữ Tầu thay cho chữ Việt, xài căn cước Tầu, và đặc biệt nhất là cấm tuyệt đối không cho văn hóa Việt được phát triển ở đây.

Tuy không có bảng cấm “Người Việt không được vào”, nhưng những người Việt bước vào khu này, nếu không phải là có quan hệ với người Tầu ở đây, thì sẽ gặp những rắc rối khó khăn, những cặp mắt căm thù, khiến phải nhanh chân trở ra. Điều khác biệt giữa Đông Đô Đại Phố và các khu phố Tầu khác trên thế giới ở chỗ đây là một tỉnh lỵ nhỏ của người Tầu và không một dân tộc nào khác được vào đây mua đât, mua nhà như ở các khu phố Tầu khác. Đường phố chính của Đông Đô Đại Phố là một trung tâm thương mại, có 3 mặt tiền giáp với đường lớn rộng 35 mét, cao 3 tầng với đầy đủ các dịch vụ kinh doanh buôn bán, giải trí, ẩm thực rặt văn hóa Tầu với tên cửa hàng chỉ viết chữ Hán. Trong giao dịch ở đây, chỉ có ngôn ngữ Tầu được sử dụng, nói líu lo. Như vậy, có nghĩa là phần đất này đã được bán cho Tầu môt trăm phần trăm.

Tuy nhiên, nếu Đông Đô Đại Phố là cái gai nhọn trong chân người Việt, thì khu Gia Lai-Tân Rai lại ghê gớm hơn vì nơi đó chính là nguồn gốc sự tiêu hủy môi trường và con người chung quanh vùng này. Từ khi lấy tiếng là khai thác bâu xít để lấy quặng nhôm cho đến nay, số lượng nhôm được khai thác chỉ là những con số huyễn hoặc không ai có thể kiểm tra là đúng hay xạo.

Trong khi sự thật lại là việc các công nhân Tầu làm việc ở đây chính là những công an, bộ đội Tầu, được lệnh phải lấy được vợ người Việt chung quanh để biến họ thành dân Tầu với những ưu tiên về mọi mặt. Nhiều thôn nữ nghèo khổ trong vùng, khi nghe những lời đường mật dẫn dụ về các đặc quyền đặc lợi mà họ sẽ được hưởng nếu lấy chồng Tầu, thì sẵn sàng “trao duyên cho tướng cướp”. Sau đó, thì sinh con đẻ cái cho chúng, lập thành một dân tộc riêng biệt chiếm lĩnh vùng cao nguyên mầu mỡ này. Những công nhân gốc công an, bộ đội này dành quyền miễn trừ ngoại giao cho chính chúng nó, nếu chúng có xông ra đánh đập, đâm chém người dân chung quanh thì chính quyền sở tại không dám đụng đến, ngược lại, nếu thanh niên trai làng mà có chuyện xích mích với chúng, thì chúng có quyền bắt trói, gông cổ ngay tại cổng trại!

Có lần cả gần 200 công nhân-công an Tầu tràn ra đường với gậy gộc đánh đập thanh niên chung quanh chạy trối chết mà công an Việt chỉ biết đứng trơ mắt ốc ra mà nhìn. Gần đây, điều kinh khủng nhất đã xẩy ra: vì xây cất dỏm, nên bùn đỏ tràn hồ làm hủy hoại toàn thể môi trường chung quanh. Bùn đỏ là bùn độc hại, bởi vì có lượng xút rất cao, khoảng 75kg xút/1 tấn bùn đỏ cộng với độ PH rất cao sẽ làm chết hết cây cỏ, động vật, thực vật, phá hủy kim loại. Khi chẩy xuống nguồn nước thì cá tôm sẽ chết hết, người ta nếu ăn vào thì cũng sẽ chết theo tôm cá. Ngoài ra, bùn đỏ còn có thể kéo theo các kim loại nặng và chất phóng xạ nguy hiểm cho đời sống con người. Đồng thời với việc bùn đỏ tràn hồ, việc các xe tải chở Aluminum (hay chở vật liệu gì đó, thì không ai biết được!) chạy qua các thành phố liên hệ, cũng là môt nỗi ám ảnh không dứt cho người dân sống trong vùng này. Các xe tải của công ty khai thác bâu xít chạy ầm ĩ trên các đường lộ đông dân cư và trẻ em, đã gây ra không biết bao nhiêu tai nạn, hoặc lật xe, đổ chất độc xuống đường, hoặc cán chết người vô tội vạ.

Tháng 6 năm 2014, điều mà dân Việt lo sợ nhất đã chính thức xẩy ra: khu kinh tế Formosa, Vũng Áng, Hà Tĩnh của Việt Nam gửi thư lên nhà cầm quyền Hà Nội và yêu cầu nhà cầm quyền Việt Nam cho được lập đặc khu với nhiều quyền hạn vượt ra ngoài khuôn khổ luật pháp bình thường, nghĩa là đòi trở thành một đặc khu người Tầu dưới sự cai trị của người Tầu, dứt khoát chê bỏ chính quyền của đảng Cộng Sản Việt Nam. Tuy đòi hỏi này chưa được chấp thuận, nhưng với sự hèn nhát của Đảng Cộng và dưới áp lực của các bản hiệp ước bán nước cho Tầu, dần dần rồi yêu cầu này cũng được chấp thuận, hoặc cứ tà tà mà thực hiện, không cần phải đánh trống khua chiêng ầm ĩ. Theo thư xin được đặc quyền này gửi cho Phó Thủ Tướng Hoàng Trung Hải là một con cờ của Bắc Kinh, Tổng giám đốc công ty Hưng Nghiệp Formosa Dương Hồng Chí, người Tầu, nói lý do là việc thiết lập đặc khu kinh tế nhằm phục vụ cho quá trình xây dựng cảng nước sâu Sơn Dương và đầu tư các ngành công nghiệp liên quan như gang thép, điện, nước...

Thực tế, chúng gửi yêu cầu để tách vùng Vũng Áng, Hà Tĩnh, thành như một vùng tự trị trong lòng giang sơn Việt Nam. Với con số trên dưới 10,000 công nhân Tầu không có giấy tờ hợp pháp, khu Vũng Áng đã có một lực lượng quân sự khá lớn, nếu xẩy ra đụng chạm giữa Việt Nam và Trung Cộng. Điều này cũng là sự thực, không phải phỏng đoán, vì những ai sinh sống gần khu Vũng Áng đều thấy rằng có môt lực lượng an ninh với vũ khí đặc biệt trấn đóng trong khu này. Những khuôn mặt lầm lì, những lần tuần tra có vũ khí của lực lượng công nhân Tầu đã cho người ta thấy rõ dã tâm của bọn Tầu khi đã chuẩn bị sẵn để bất cứ lúc nào cũng có thể tấn công các lực lượng phòng thủ của công anh hay quân đội quanh miền này.

Như thế, với 10,000 “quân nhân” Tầu tại Vũng Áng, cộng với hơn 10.000 “quân nhân” Tầu tại Gia Lai-Tân Rai, và vài chục ngàn “quân nhân” Tầu tại Đông Đô Đại Phố, cùng các lực lượng nhỏ của Tầu nằm rải rác khắp nơi trên đắt Việt,từ Móng Cáy, Hòn Gai, đến Cà Mâu, Hà Tiên… nếu có một trận chiến xẩy ra giữa Tầu Cộng và Việt Cộng thì Việt Cộng sẽ thấy kết quả thua trận ngay trước mắt. Trận chiến 1979 do Tầu khởi xướng chỉ tại mỗi môt miền Bắc, mà Việt Cộng đã phải hy sinh 24,000 người chết, (chưa kể người bị thương), thì trong tương lai, nếu có trận chiến thứ hai xẩy ra giữa “hai anh em môi hở, răng lạnh” này, mà thằng anh đã gài sẵn môt hệ thống “da beo” trên khắp miền đất Việt Nam, nhất định thằng em Việt Cộng sẽ chết không dưới 200,000 người, và như thế, thì lá cờ trắng sẽ được treo trên cột cờ thành phố Hà Nội chỉ trong vòng 3 ngày chiến đấu. Máu Việt Nam sẽ đổ tràn lan trên khắp miền Nam, Trung, Bắc. Thế hệ sau của Việt nam sẽ biến thành thế hệ của Tầu…

Thật đau lòng cho các vua đời Đinh, đời Lê, đời Lý, đời Trần và Hoàng Đế Quang Trung đã hiến dâng tính mạng mình cho đất nước, mà giờ đây, con cháu lại bán đứt đất nước cho giặc! Ôi! Nhục thay! Thảm Thương thay cho dân Việt, đã hơn 4000 năm văn hiến, bảo vệ giang sơn, mà giờ đây, bọn Cộng Nô lại nỡ tâm đem bán để cho chúng hưởng đời tỷ phú huy hoàng

Dòng Họ Độc... Tại Việt Nam!

Nguyễn Quang


Đến một độ tuổi nào đó, con người rơi vào bệnh bất lực, nhưng riêng tại Việt Nam bệnh này ngày một thêm trầm trọng, nó phát bệnh ngay trong giới trẻ, gọi nôm: trên bảo dưới không nghe!

Một thời ai cũng nguyền rủa giới lãnh đạo Hà Nội già nua, tham quyền cố vị những con người chỉ chờ mong cái lễ quốc táng đúng vậy, phần lớn họ cầm quyền cho đến chết, ngày nay lớp trẻ hơn và rồi những chuyên viên mới ra trường trẻ hơn nữa. Tất cả ít ra bề ngoài đều xắn tay áo để làm việc, nhưng một đất nước ngày càng tồi tệ hơn từ thượng tầng kiến trúc đến hạ tầng cơ cấu vô phương cứu chữa, trong khi chờ đợi cái ngày tàn như Liên Xô cũ và Đông Âu, ở đây và bây giờ có danh gọi cho thời này, đó là: bất lực và hết thuốc chữa! Cộng sản trong khi đào mồ chôn chủ nghĩa bản đã kiệt sức và tự chôn lấy chính mình!

Người dân hay đùa không biết nước từ Bắc cực tan băng nhanh quá, chuyện ngập nước, tắc đường những nhà quản lý xã hội chủ nghĩa đành bó tay, hết họp tới bàn nhậu nhưng đường xa vẫn không thấy ánh sáng cuối đường địa đạo!

Việt Nam thuộc 10 nước chịu nhiều thiên tai nhất, vì đâu? Trong nước những thông tin tràn ngập trên các báo Tắc đường, kẹt xe, ngập nước, mưa kéo dài gây ngập nặng, giao thông hỗn loạn, Đà Nẵng mưa lớn ngập đường không lối thoát, Thành phố Huế ngập nặng sau trận mưa đêm, mưa lớn ở Hà Nội có 3 người chết do bị rò điện, Thành phố Nghệ An sũng nước sau trận mưa đêm, Sài Gòn ngập nặng sau cơn mưa lớn... Nhiều đến mức như đi ngang qua bệnh viện ung bướu hà tất có những khúc xương rơi!

Không ai từ chức hết vì không ai chịu trách nhiệm! Dân chúng rất bất bình nhưng công an với nòng súng cùng vòi rồng hơi cay sẵn sàng theo lệnh đàn áp người dân cho dù chính đó là gia đình họ cũng đang trong nỗi bức xúc. Hết Bộ Sở Giao thông, Bộ Sở Xây dựng, Bộ Sở Công an Thành phố, lại đến Chủ tịch Nước, Thủ tướng, Chủ tịch UBND Thành phố nhất tề xin hứa nhưng đều như Cụi, mọi sự đâu vào đó, vấn đề là chúng ta đang bước đi trên con đường nào, tất cả trong u mê tăm tối !

Nguyên nhân nào?


Rõ ràng như lời Ông Võ Trần Chí phát biểu Tôi không có khả năng làm Bí thư Thành ủy Sài Gòn, nhưng Ông Nguyễn Văn Linh buộc phải làm vậy thôi! Trong hàng ngũ đảng viên cao cấp Cộng sản gọi Võ Trần Chí là tú ông, những gì xảy ra cho Việt Nam, đó là hệ lụy tất yếu từ nhiều năm cai trị của những chính trị gia trước đó. Đất nước sẽ còn những hậu quả lâu dài do những lãnh tụ như hôm nay: từ quốc táng đến dâm táng thật bi thương!

Con đường tối tăm này sẽ kéo dài trong bao lâu nữa cùng sự chịu đựng của người dân cho đến bao giờ? Đã có bao nhiêu người phải chịu thiệt hại về hoa màu tài sản do con nước thủy triều ngày càng dân cao, những câu hỏi ngày càng bỏ ngỏ về năng lực của người lãnh đạo và nói đúng ra đã có ai bầu về năng lực của họ mà gọi là bỏ ngỏ!

Tất cả các lãnh tụ Cộng sản có cái khí phách là khi đương quyền không dám làm, chờ cho đến khi về hưu sắp xuống lỗ mới huyênh hoang có điều kiện và bài toán đặt lên luôn không có lời giải ! Ý chí và quyền lực đều vô định do khả năng lãnh đạo không có nên nó sẽ mãi là định hướng biến con người thành những vật thí nghiệm – Guinea pig.

Nhà lãnh đạo thật sự không có khả năng để kiểm chứng lại những kế hoạch quốc gia trên phạm vi chiến lược và sách lược!

Tất cả những gì tại Việt Nam ngày nay đều là mô hình từ thời Xô Viết đầy các Viện nhưng không có viện nào làm ra việc gì! Từ Bộ thượng đến Bộ hạ chỉ mình ông vừa đá bóng vừa thổi còi không ai kiểm soát được các ông cả vì đó là những sự nhân danh BÍ MẬT QUỐC GIA!

Nào Bộ ra nhiệm vụ, Bộ cấp tiền, Bộ chỉ đạo thực hiện; Bộ thẩm định, Bộ trình phê duyệt, Bộ cất nhắc, Bộ bổ nhiệm cán bộ…vậy nếu bạn là Viện trưởng một Viện bạn có dám sang lề bên kia không? Không thể có sự sáng tạo là vậy!

Độc tài, Độc Quyền, Độc Diễn... Độc ác thì đều họ Độc cả!


Vì độc quyền, nên không cần phải cố gắng. Cũng như phần lớn các viện nghiên cứu thuộc các bộ ngành khác, sự trì trệ ở đây chỉ có xu hướng càng ngày càng dâng cao. Cho nên các viện nghiên cứu nay thường chỉ còn vỏ mà không còn ruột. Các chuyên viên giỏi đều ra đi trong nền kinh tế thị trường hoang dã, đó là sự thật!

Từ tư tưởng đến hành động, một khi não bộ là các Viện chỉ còn là cái vỏ, tất yếu xảy đến những điều như đang xảy ra: từ quốc táng đến dâm táng của cha con Lê Chiêu Thống thời mới.

Điều quan trọng trong sự nhầm lẫn của chế độ Cộng sản Việt Nam ngày nay là: lẫn lộn tư duy, lẫn lộn thành phẩm.

Tư duy vẫn là Mác Lê cũ nhưng phương tiện, tư liệu sản xuất không phát minh được gì ngoài sự vay mượn của Tư bản và kết quả thành phẩm với tầng lớp mới bóc lột cướp giật nhơ bẩn hơn mọi thời: lòng tham của một đảng viên bằng dục vọng của các công dân cộng lại! Đó là tầng lớp tư bản đỏ!

Mô hình điều khiển quốc gia đòi hỏi những người lãnh đạo, quản lý đất nước ở mọi cấp phải hoàn thiện chính bằng những hiểu biết sâu sắc về đô thị học vì vốn nguyên ngữ Hy Lạp, chữ chính trị là điều khiển các thị thành – politique = polis + têchnê. Đặc biệt, các vấn đề đều được phân tích với luận cứ khoa học chắc chắn.

Biết bao chợ búa, trường học được xây nên nhưng rồi bỏ không trong khi vô số nơi trên đất nước này thiếu trường lớp! Đó là hình ảnh về khả năng của của các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam. Tất cả những gì đang xảy ra trên đất nước này ngày nay chỉ là mỹ từ, những thành tích ngụy tạo được nâng lên trong thiên đường của Mác chỉ càng làm xấu đi bộ mặt Tiến sĩ đầy khoa bảng của ông!

Hãy dùng ngay những gì của Mác để loại Mác ra khỏi đất nước này, hãy phủ định của định, hãy biết khởi đầu! Làm lại chính mình để chuyển biến xã hội!

Hiện nay, tầng lớp bị thiệt thòi nhất chính là nông dân, họ luôn được dùng như chiêu bài hàng đầu trong các cuộc đấu tranh của cộng sản để nắm chính quyền, nhưng người nông dân chân chất trên các cánh đồng giúp chúng ta hằng ngày dùng đủ đã bị quên lãng! Song những khúc nhạc đồng quê như vẫn mãi reo lên trong mỗi tâm hồn người dân Việt: Bao giờ ngọn lúa ngoài đồng, tiếng chim còn hót… Tôi vẫn lạc quan về dân tộc mình!

Bỏ chống ngoại xâm để bảo vệ Mác

Phạm Trần

Đội ngũ loa phường (tuyên truyền) và dư luận viên của Ban Tuyên giáo và Quân đội nhân dân Việt Nam đã quên bổn phận bảo vệ Tổ quốc nhưng lại vênh váo thuần phục kẻ thù và tung hô xác chết để giữ quyền lãnh đạo độc tôn cho đảng.

Những nội dung này đã đồng loạt xuất hiện trên hai báo điện tử của Ban Tuyên giáo Trung ương do Ủy viên Bộ Chính trị Đinh Thế Huynh cầm đầu và báo Quân đội Nhân dân của Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng vào dịp kỷ niệm 97 năm Cuộc Cách mạng Tháng 10 Nga (17/11/1917-17/11/2014).

Nhưng trong những cố gắng tối đa ấy cũng thấy xuất hiện sự sợ hãi suy tàn đang chờ đợi đảng CSVN vì lãnh đạo đã nhìn nhận “Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong Đảng và trong xã hội có chiều hướng gia tăng.”

Tại sao ?


Vì chủ nghĩa Cộng sản Mác-Lênin và Tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh đã chết trong thực tế từ năm 1991, đánh dấu thời kỳ cáo chung của Thế giới Cộng sản do Nga sô lãnh đạo vì đã cai trị bằng độc tài, hà khắc và sống trên xác chết của dân.

Những khuyết tật của đạo đức gỉa, lối sống bóc lột sức dân, tham lam vô đáy và tiêu diệt các quyền con người của những kẻ cầm quyền trong các chế độ Cộng sản trên Thế giới là nguyên nhân làm sụp đổ Thế giới Cộng sản.

Vì vậy, khi các Lãnh đạo đảng và nhà nước Cộng sản Việt Nam không còn khả năng giáo dục cán bộ, đảng viên để duy trì “quan hệ máu thịt” với nhân dân hay thực hành câu tuyên truyền “đảng viên đi trước, làng nước theo sau” thì nguy cơ tan rã đã báo hiệu.

Thất bại lớn nhất của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng sau 3 năm cầm quyền (từ 19/01/2011) là ông đã không thực hiện được như đã hứa với Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay.”

THỰC TRẠNG ĐẤT NƯỚC


Tình trạng “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (suy thoái tư tưởng) trong cán bộ, đảng viên, kể cả số không ít lãnh đạo không còn tin vào sự thành công của chủ nghĩa Cộng sản đã gia tăng.

“Quốc nạn” tham nhũng càng ngày càng tinh vi và nghiêm trọng hơn. Quan liêu, lãng phí, nhóm lợi ích, chủ nghĩa cá nhân, chạy chức chạy quyền, đè nén, áp bức dân, đàn áp cưỡng chế tài sản của dân đem bán cho con buôn hay xây dựng bằng tiền dân rồi bỏ cho cỏ mọc hoang nuôi trâu bò, v.v… là những chuyện không còn xẩy ra từng ngày mà từng phút, từng giây trong hệ thống cai trị.

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã báo cáo với Quốc hội ngày 20/10 (2014): “Công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí vẫn chưa đạt yêu cầu đề ra. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung chính sách pháp luật về phòng chống tham nhũng, lãng phí có mặt còn chậm. Việc thực hiện các giải pháp phòng chống tham nhũng tại nhiều cơ quan chưa hiệu quả. Một số vụ án xử lý chậm. Công tác kiểm tra thanh tra hiệu quả chưa cao. Tỷ lệ thu hồi tài sản tham nhũng còn thấp. Công tác giám định tư pháp còn bất cập. Lãng phí thời gian và nguồn lực trong xã hội còn lớn. Trách nhiệm tiếp công dân, giải quyết khiếu nại tố cáo của một số ngành, địa phương chưa được quan tâm đúng mức. Khiếu kiện liên quan đến đất đai vẫn còn nhiều.”

Ngoài xã hội, giáo dục con em để tạo thành tích, sách giáo khoa lạc hậu, manh múng trong thi cử, bắt dân đóng góp ngòai tiêu chuẩn, học trò không biết sử Việt bằng truyện Tầu, tiếng Mỹ học xong nói không ai hiểu, tốt nghiệp đại học mà không biết làm gì, không có nghề để được thu nhận, tội ác do thanh thiếu niên gây ra tăng cao, nạn nghiện ngập, trộm cướp hòanh hành, băng đảng lên ngôi “hòang đế” ở nhiều khu phố, tỉnh, huyện và luật rừng đã thay pháp luật là những tệ nạn không ai trong Chính quyền dám phủ nhận.

Chuyện “cát tặc”, “lâm tặc”, “mỏ tặc”, “quặng hiếm bán chui qua biên giới cho thương lái Trung Quốc”, “hàng chui, hàng lậu, hàng bẩn độc hại từ Trung Quốc cứ tự do thông thương giết kinh tế, hàng hoá Việt từ bao năm nay mà nhà nước cứ coi như “giao hảo bình thường trong tình nghĩa vừa là đồng chí vừa là anh em”.

Ngay đến chuyện bệnh viện qúa tải, một giường Nhà thương nằm 3 bệnh nhân, nằm la liệt trên sàn nhà, ngòai hành lang, lều chõng người thăm nuôi ngổn ngang hơn trại tị nạn ở Trung Đông. Rồi chuyện Bác sỹ chẩn bệnh, biên toa mua thuốc tùy vào số tiền “lót tay” nhiều hay ít, tiền y tá, cứu thương thu ngoài luồng cũng gấp chục lần hơn tiền lương tuy là những chuyện đau lòng cho dân nhưng lại “rất bình thường” với Nhà nước vì xưa nay vẫn thế !

Nền kinh tế sau 3 năm gọi là “tái cơ cấu”, báo cáo của Chính phủ với Quốc hội ngày 20/10 (2014 viết: “Tái cơ cấu kinh tế vẫn còn chậm. Năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh còn thấp. Tốc độ đổi mới công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu. Công nghiệp công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ phát triển chậm. Tỷ trọng công nghiệp chế biến chế tạo và tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP còn thấp so với các nước trong khu vực. Doanh nghiệp trong nước chưa tham gia được nhiều vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Tái cơ cấu nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới chưa đạt mục tiêu đề ra. Tái cơ cấu đầu tư công một số nơi triển khai chậm, nợ đọng xây dựng cơ bản vẫn còn lớn; việc thu hút đầu tư ngoài nhà nước vào phát triển kết cấu hạ tầng còn hạn chế. Vẫn còn một số tổ chức tín dụng yếu kém. Tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước hiệu quả chưa cao. Hiệu quả kinh doanh của nhiều doanh nghiệp nhà nước còn thấp.”

Trong lĩnh vực xã hội, ông Dũng báo cáo: “Kết quả giảm nghèo chưa bền vững, khoảng cách giàu nghèo giữa các nhóm dân cư còn lớn. Chuyển dịch cơ cấu lao động còn chậm. Tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số còn cao. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận dân cư nông thôn, vùng sâu vùng xa còn nhiều khó khăn. Số người thiếu việc làm và việc làm không ổn định còn lớn, nhất là trong thanh niên. Nợ và chậm đóng bảo hiểm xã hội còn nhiều. Nguồn lực bảo đảm an sinh xã hội, trợ giúp xã hội còn hạn hẹp. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân một số mặt chưa đáp ứng yêu cầu. Việc bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm còn nhiều khó khăn. Quản lý nhà nước về văn hóa, nghệ thuật, thể thao, thông tin truyền thông nhiều mặt còn hạn chế. Chưa bảo đảm tốt an ninh, an toàn mạng. Tệ nạn xã hội nhiều nơi còn phức tạp.”

KẺ THÙ LÀ BẠN AI ?


Trong khi ấy thì Trung Cộng đã công khai bành trướng lãnh thổ chiếm được của Việt Nam ở Hòang Sa và Trường Sa bằng cách kiến thiết các bãi đáp máy bay, bến cảng, biến 8 bãi đá chiếm ở Trường Sa năm 1988 thành đảo nhân tạo và xây dựng kiên cố đảo Chữ Thập thành đảo lớn nhất ở quần đảo Trường Sa mà nhà nước Cộng sản Việt Nam chỉ biết tiếp tục phản đối và tái khẳng định bằng điệp khúc “Hòang Sa và Trường Sa là của Việt Nam.”

Và ông Thủ tướng Dũng cũng chỉ biết hứa với Quốc hội rằng Việt Nam: “Kiên quyết đấu tranh bằng các giải pháp phù hợp bảo vệ chủ quyền biển đảo và giữ vững hòa bình, ổn định để phát triển kinh tế xã hội.”

Nhưng thế nào là các “giải pháp phù hợp” vì thực tế nhà nước Việt Nam đã không còn làm chủ tình hình an ninh trên Biển Đông từ Hòang Sa xuống Trường Sa.

Chẳng những thế, sau các cuộc họp tại Hà Nội ngày 27/10 (2014) giữa Quốc vụ viện Trung Cộng Dương Khiết Trì với các ông Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Chủ tịch nước Trương Tấn Sáng và Phò Thủ tướng, Bộ trường Ngọai giao Phạm Bình Minh, phía Việt Nam đã đồng ý “hợp tác cùng phát triển trên Biển Đông” với Trung Cộng, đòi hỏi cốt lõi của lãnh đạo Bắc Kinh từ thời Đặng Tiểu Bình (1979).

Tin chính thức của Chính phủ Viết Nam lần đầu tiên xác nhận đòi hỏi của Trung Cộng đã được Việt Nam đáp ứng: “Hai bên thực hiện nghiêm chỉnh nhận thức chung của lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước, căn cứ “Thỏa thuận về những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển Việt Nam - Trung Quốc” thúc đẩy các cơ chế đàm phán về vấn đề trên biển. Dựa trên nguyên tắc dễ trước khó sau, tuần tự tiệm tiến, sớm triển khai công việc khảo sát chung, tạo cơ sở cho việc thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này như Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường đã nhất trí với Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tại cuộc gặp tại Mi-lan, I-ta-li-a ngày 16/10/2014.”

Mấy chữ “đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ đi đôi với hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này” có ý nghĩa quan trọng vì đã vượt ra khỏi ranh giới được gọi là “lằn vắt ngang” (phân ranh giới) ở vịnh Bắc Bộ ghi trong thỏa hiệp tháng 6/2013 giữa Chủ tịch Trương Tấn Sang và Chủ tịch Nhà nước Trung Cộng Tập Cận Bình. Và như vậy là Việt Nam đã phải nhượng bộ đòi hỏi từ bấy lâu nay của Trung Cộng để đổi lấy sự an tòan chính trị.

BẢO VỆ MÁC CHO AI?


Một đất nước Việt Nam ngày nay như thế mà khi người dân lên tiếng đòi tự do, dân chủ và quyền con người để bảo vệ quyền lợi và sự vẹn tòan lãnh thổ của Tổ quốc trước hiểm họa xâm lược của Trung Cộng thì lại bị đàn áp dã man ở Sài Gòn và Ha Nội từ năm 2011 đến nay.

Như vậy thì còn gì gía trị của câu nói “Không gì qúy hơn độc lập, tự do” của ông Hồ Chí Minh mà đảng CSVN đã tốn không biết bao nhiêu tiền bạc và công sức để tuyên truyền và bảo vệ ?

Nhưng khi lòng dân không còn tin vào cán bộ thì đảng viên cũng mất niềm tin vào đảng thì có phải đảng đã đi sai đường khi tiếp tục cho mình độc quyền lãnh đạo đất nước như ghi trong Điều 4 Hiến pháp 2013: “Đảng Cộng sản Việt Nam - Đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của Nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc, lấy chủ nghĩa Mác – Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội.”?

Những thay đổi của Thế giới từ khi Nga và các nước Cộng sản ở Đông Âu tan rã từ 1989 đến năm 1991 đã chứng minh, nếu có tự do và dân chủ, không dân tộc nào trên thế giới đã dại dột lao đầu vào gông cùm của Cộng sản.

Vậy mà ở Việt Nam gần cuối năm 2014, Ban Tuyên giáo và báo Quân đội Nhân dân đã phổ biến một số bài viết tuyên truyền để cổ võ cho cuộc Cách mạng tháng 10 Nga và Chủ nghĩa Mác-Lênin và hết lời ca tụng đường lối cai trị đất nước của đảng CSVN từ khi Hồ Chí Minh “nhập cảng” vào Việt Nam thứ Chủ nghĩa sát nhân này để thực hiện cuộc được gọi là “Cách mạng mùa Thu 1945”.

Trong bài này, chỉ nêu ra 3 trường hợp:


Trong bài viết của Tác gỉa Phương Đông trên Tạp chí Cộng sản ngày 5/11/2014, cơ quan lý luận của đảng lập luận: “Sau sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu, trên thế giới, chủ nghĩa xã hội đang trải qua thời kỳ đầy khó khăn, thử thách. Kẻ thù của chủ nghĩa xã hội được thể lu loa đủ điều nhằm bôi nhọ và hạ thấp hình ảnh của Cách mạng Tháng Mười Nga và cơ sở tư tưởng của cuộc cách mạng này là chủ nghĩa Mác - Lê-nin. Họ cho rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga chỉ có ý nghĩa địa phương, chỉ có giá trị thuần túy Nga; qua đó, phủ nhận tính tất yếu và biện chứng của Cách mạng Tháng Mười Nga cũng như của cách mạng xã hội chủ nghĩa nói chung, đồng thời đi tới phủ nhận tính khoa học và cách mạng của chủ nghĩa Mác - Lê-nin.”

Phương Đông viết tiếp: “Tuy đang gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng chủ nghĩa xã hội vẫn đứng trước triển vọng to lớn, bởi lẽ, con đường mà Cách mạng Tháng Mười Nga đã mở ra phù hợp với quy luật tiến hóa của lịch sử nhân loại, đem lại tự do, hạnh phúc thật sự cho loài người tiến bộ. Không ai và không một thế lực nào có thể phủ định hoặc hạ thấp được vị trí, vai trò, ý nghĩa, tầm vóc và ảnh hưởng to lớn của Cách mạng Tháng Mười nga đối với tiến trình lịch sử nhân loại. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co, song loài người cuối cùng cũng nhất định tiến tới chủ nghĩa xã hội.”

Lập luận mơ hồ và viển vông này cũng đã được ghi vào Cương lĩnh “Xây dựng đất nước trong thời kỳ qúa độ lên Xã hội Chủ nghĩa” (Bổ sung và phát triển năm 2011) của đảng CSVN: “Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thách thức, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.”

Nhưng thứ “chủ nghĩa xã hội” mà đảng CSVN cổ võ từ bấy lâu nay là cái gì, thiên đàng hay địa ngục thì lịch sử của nhân loại đã trả lời với nhiều trăm triệu con người vô tội đã chết tức tưởi dưới tay người Cộng sản.

Ngay cả đảng CSVN cũng chưa trả nợ với nhân dân về hàng nghìn mạng sống người dân, kể cả những ân nhân của ông Hồ đã bị chôn sống, bắn chết trong Cuộc Cải cách ruộng đất đẫm máu từ 1953 đến 1956.

Quân đội Cộng sản Việt Nam vẫn còn nợ trên 5.000 vong linh ngưồi dân Huế đã bị bộ đội giết hại trong cuộc tấn công Tết Mậu Thân 1968.

Và sau cùng, hàng chục ngàn người dân, đa số vượt biển ra đi tìm tự do từ miền Nam Việt Nam sau 30/4/1975 đã bị chết trên Biển Đông cũng chưa được lịch sử “tính tội” với đảng CSVN.

Vậy mà Cương Lĩnh của đảng CSVN vẫn dám nhét chữ vào miệng dân với câu viết trâng tráo: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Namvà Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử.”

Có “nhân dân” nào ở Việt Nam từ ngày đảng CSVN ra đời năm 1930 đã kiến nghị hay xuống đường biểu tình đòi hỏi phải cho mình được sống với “chủ nghĩa xã hội” ngọai lai ?

Đến phiên Hồng Hải cũng viết trên báo Quân đội Nhân dân ngày 6/11/2014: “Riêng Việt Nam, sau hơn 80 năm ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng để định ra cương lĩnh đấu tranh cách mạng và xây dựng chủ trương, biện pháp lãnh đạo đất nước, đã vượt qua bao thử thách, giành được những thành tựu to lớn. Chúng ta kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê-nin theo tư tưởng Hồ Chí Minh, nắm chắc tinh thần khoa học, thực tiễn của lý luận chứ không phục tùng từng câu, từng ý trong trước tác của các ông. Chính điều đó đã góp phần làm cho “con đường đi lên CNXH ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn”, đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới ở thế kỷ XXI với vị thế mới, mà nhân dân và bạn bè đều thừa nhận: “chưa bao giờ, thế và lực của Việt Nam mạnh mẽ như hiện nay”.”

Cuối cùng thì có thêm PGS, TS (Đại tá) Nguyễn Mạnh Hưởng hô hoán trên QĐND ngày 5/11/2014: “Trung thành, kiên định Chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đặt nó trên "cơ sở hiện thực" mới đương đại, vận dụng sáng tạo vào thực tiễn, thực hiện thắng lợi sự nghiệp đổi mới đất nước là câu trả lời rõ ràng của chúng ta, làm thất bại, phá sản mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá của các thế lực thù địch. Đó là trung thành, đi theo một học thuyết cách mạng và khoa học, một học thuyết thực tế; là đi tiếp lịch sử dân tộc ta đã từng đi hơn tám thập kỷ qua; là sự nối tiếp hiện thực-thực tiễn chủ nghĩa xã hội đã có, đang có ở Việt Nam, chứ không phải là "khư khư giữ lấy" một "chủ nghĩa hết thời", "phi hiện thực", một "lý tưởng mơ hồ", cũng không phải là để "tự trấn an" như sự xuyên tạc của các thế lực thù địch.”

Tất nhiên là những lời biện bạch, chạy tội cho Nhà nước Việt Nam dựa vào Chủ nghĩa phá sản và lạc hậu của Mác-Lênin và tư tưởng Cộng sản Hồ Chí Minh cần phải hô to khắp làng khắp xóm để cho đảng tồn tại mãi mãi thì những cái loa khóm phường và dư luận viên mới có cơm ăn và áo mặc.

Chỉ tiếc rằng nếu đất nước và con người Việt Nam cứ còn mãi những con người có đầu mà thiếu óc lãnh đạo thì đến bao giờ mới hết lầm than?