TỪ VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA ĐẾN VĂN MINH PHẢN ĐẠO CỦA TÂY PHƯƠNG (bài 4)

Nguyễn Anh Tuấn

Trên thực tế lịch sử, không chỉ có văn minh Đông Phương LẠC ĐẠO (heretical religion),mà văn minh Tây Phương từ thời Phục Hưng (renaissance) vào đầu thế kỷ XIV đến thế kỷ XVI ,kế tiếp là Thời Kỳ Ánh Sáng vào thế kỷ XVII cũng rơi vào tình trạng PHẢN ĐẠO (apostate religion).

Trong cuốn Rape of Nation, Herold Turner đã đưa ra một câu hỏi thật nghiêm trọng,Tây Phương đã lầm đường lạc lối như thế nào? (How was the West lost?). Những câu hỏi quá quan trọng, bởi vì thế giới Tây Phương bây giờ là một môi trường để thêm một lần nữa trở thành mảnh đất để những hạt giống mới của Phúc Âm gieo xuống. Riêng tại Hoa Kỳ, hiện nay đã có tối thiểu 120 triệu người trầm mình trong môi trường sống hoàn toàn phàm tục và dung tục.

Từ 700 năm qua kể từ thời Phục Hưng (renaissance 1300-1600), rồi kéo đến cuộc cách mạng khoa học (Scientific revolution,1450-1632),rồi sau đó là cuộc cách mạng kỹ nghệ (industrial revolution 1750) tiếp theo là thời kỳ Triết Học Ánh Sáng (philosophy of Enlightenment),Cách Mạng Pháp,và sau chó là Cách Mạng Cộng Sản. VĂN HÓA TÂY PHƯƠNG TỪ MẤY THẾ KỶ NAY ĐÃ TRỞ THÀNH VĂN HÓA CHUNG CỦA TẤT CẢ NHÂN LOẠI, một thứ văn hóa được hướng dẫn cực kỳ sai lầm của thời Phục Hưng và sự sai lầm đó cứ tiếp nối nhau như những đợt sóng. Làn sóng khoa học, làn sóng cách mạng kỹ nghệ, cách mạng trí thức và tư tưởng, cách mạng xã hội và cuối cùng là cách mạng của trường phái vô thần. Tất cả đều thành công rực rỡ, với những kiến thức đồ sộ khắp Âu Châu, với những phát minh khoa học làm chóa mắt con người, với những suy tư triết học duy lý và thực nghiệm đã giúp cho cuộc sống vật chất vô cùng phong phú. Sức mạnh vật chất khuyến khích con người bước vào các cuộc viễn chinh để chọc trời khuấy nước, để khuynh đảo, lấn chiếm và sang đoạt đất đai khắp nơi trên toàn thế giới qua các phong trào thực dân đi chiếm thuộc địa.

Văn minh Âu Châu đi đến đâu con người ngã gục đến đó. Máu chảy thành sông, thây và xương người chất cao như núi.

Đạo lý của Thiên Chúa từ Đông Phương đưa đến cho Âu Châu từ từ lịm tắt từ 700 năm qua.Văn hóa Âu Châu đã bị phàm tục hóa và dung tục triệt để và toàn diện nên nền văn hóa đó đi đến đâu thì các nền Đạo Lý và văn hóa của các giống dân khác bị nhận chìm luôn cho đến ngày nay. Herold Turner cho rằng: văn hóa Tây Phương càng ngày càng bệnh hoạn,và những con vi trùng của những căn bệnh đó được xuất cảng đi khắp nơi,và xuất cảng luôn qua Tân Thế Giới là Hoa Kỳ. Đạo Lý của Thiên Chúa vỡ ra từng mảnh vì các làn sóng phàm tục dung tục và vô thần.

Triết lý, khoa học, kinh tế học, xã hội học, sử học, chính trị học, giáo dục, thương mại, kỹ nghệ, tâm lý học và luật học…tất cả đều tỏ ra lạnh lùng với đời sống tình cảm và tâm linh của con người.Từ đó con người rời xa đời sống cộng đồng để sống trọn vẹn cho cá nhân chủ nghĩa và tự do buông thả. Cá nhân và tự do buông thả lạnh lùng quay mặt với niềm tin tôn giáo. Ở đâu có tự do, ở đó không còn Đạo Lý và tôn giáo nữa. Alexis de Tocqueville cho biết: “Tại Pháp và Âu Châu tự do và tôn giáo là hai con đường nghịch chiều. Trong lúc tại Hoa Kỳ, tự do và tôn giáo là hai con đường song song”

Trong cuốn sách mỏng có tựa đề là Le Prince của Machiavelli xuất bản vào thời Phục Hưng, Machiavelli đã viết xuống những tư tưởng chính trị để dạy các ông hoàng muốn tạo sự nghiệp lừng lẫy để nắm đầu thiên hạ. Tác phẩm này không chỉ đem đến cho ông Hoàng nổi tiếng thời Phục Hưng là Medici một kỹ thuật siêu việt để cướp đoạt quyền lực, duy trì và củng cố quyền lực. Triết lý chính trị của ông thật đơn giản. Muốn xây dựng sự nghiệp chính trị huy hoàng thì chỉ cần vài điều giản dị như sau:


1---Phải có sức mạnh, muốn có sức mạnh thì phải biết độc ác và tàn bạo với con người.

2---Đừng rụt rè hay ngần ngại khi dối trá và lường gạt tất cả con người.

3---Đừng coi luật pháp là gì cả; bởi vì sức mạnh của quân đội là luật rồi.


Vì thế, Machiavelli được những con người biết tôn trọng Đạo Lý và tình yêu con người đưa ra nhận xét:

“Đây là ngôn sứ của bày quỉ dữ” (a spoken man of devils). Và người ngôn sứ đó đã khơi đúng mạch sống tiềm ẩn nơi mặt trái của con người phàm tục và dung tục là tàn bạo phũ phàng và lạnh lùng độc ác cũng như sẵn sàng lừa dối và trí trá với tất cả mọi người, miễn là làm sao nắm cho được quyền lực chính trị. Vì thế, Machiavelli được chọn là “tổ tiên của các nhà độc tài từ Đông qua Tây vào thời hiện đại” (1300-2014). Tổ phụ Machiavelli đã sinh ra Lozenro de Medici, Karl Marx, Lenine, Staline, Hitler, Musolini, Mao Trạch Đông, Hồ chí Minh, Pol Pot, Fidel Castro và Kim Nhật Thành. Tất cả đều là những nhà độc tài lừng lẫy vì họ đã làm đủ ba điều mà Machiavelli đã dạy họ để thâu tóm quyền lực, duy trì quyền lực và củng cố quyền lực của họ. Nhờ đó cách mạng cộng sản đã chiếm được 27 quốc gia trên thế giới và với bàn tay tàn bạo, phũ phàng và độc ác với 142 triệu người vô tội đã chết vì những bàn tay của hàng ngũ quốc tế cộng sản.

ĐÂY LÀ HẬU QUẢ LỊCH SỬ CỦA VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA VÀ VĂN MINH PHẢN ĐẠO CỦA TÂY PHƯƠNG đưa đến cho nhân loại vào thế kỷ XX. Trong đó, riêng tại Hoa Lục 65 triệu người dân vô tội đã chết vì bàn tay của Mao Trạch Đông. Hàng ngũ quốc tế cộng sản đã khai thác triệt để ba lời dạy của Machiavelli vào mọi tiến trình cách mạng cộng sản để thâu tóm quyền lực, duy trì quyền lực và củng cố quyền lực của họ tại tất cả các quốc gia mà họ thống trị. Mưu lược chính trị thần sầu quỉ khốc của Khổng Minh, Tôn Tử hay Đông Chu Liệt quốc đã giúp cho các “Thiên triều” Trung Hoa bành trướng và xâm lăng các quốc gia lân bang trong suốt 2000 năm lịch sử---cộng với những mưu lược chính trị của Machiavelli, thành Floren, nước Ý đã trở thành nền móng cách mạng cộng sản tại Trung Hoa và Á Châu để tạo ra chiến tranh khói lửa tơi bời khắp nơi. Ở đó văn minh lạc đạo của ĐôngPhương và văn minh phản đạo của Tây Phương đã đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu với nhau để lạnh lùng tạo ra những chết chóc kinh hoàng không sao tưởng tượng được cho bao nhiêu triệu con người hoàn toàn vô tội và đưa đến những bi kịch đau đớn và buồn bả cho nhiều xã hội con người tại Á Châu Là những xã hội còn quá lạc hậu, nghèo khổ, dốt nát và thiếu thốn trăm bề. Thay vì cứu vớt những con người đau khổ và bất hạnh tràn lan khắp nơi thì cách mạng cộng sản lại xô đẩy tất cả vào những cơn lốc hận thù hoàn toàn tưởng tượng, không có thật giữa người và người để con người chém giết và xâu xé lẫn nhau gần 70 năm qua.

Cả hai nền văn minh lạc đạo của Đông Phương và văn minh phản đạo của Tây Phương đã tiếp tay cho nhau trong cách mạng cộng sản.Thay vì để cứu xã hội Việt Nam,Trung Hoa và các nước Á Châu thoát khỏi cảnh nghèo đói, dốt nát, lạc hậu và tăm tối ngàn năm trong các chế độ phong kiến của vua-quan hủ bại như một di sản tất yếu của một nền văn minh lạc đạo của Trung Hoa. Cách mạng cộng sản lại tiếp tục lầm lẫn cổ súy hận thù, bạo lực, dối trá, lừa đảo và phá hoại toàn diện nên cách mạng cộng sản trở thành cơn ác mộng kinh hoàng và biến các xã hội của con người Đông Phương thành địa ngục khiếp đảm chỉ thấy máu và nước mắt của bao triệu con người vô tội tràn lan khắp mọi nơi. Những mưu mẹo chính trị thần sầu quỉ khốc của chính trị bá đạo Đông Phương giao thoa với những mưu lược chính trị bá đạo của Machiavelli, thành những làn sóng chính trị độc tài trên khắp thế giới của thời hiện đại.

Bên cạnh phong trào Quốc Tế Cộng Sản, văn minh phản đạo Âu Châu đã sản sinh ra phong trào thực dân. Herold Turner cho rằng những tác động mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, tư bản và đô thị hóa, chủ nghĩa tự do và đô thị hóa, nghệt thuật và văn hóa đều là những lực lượng chính thúc đẩy sự thay đổi trên tất cả mọi phương diện,và những lực lượng này không chỉ tác động đưa đến sự thay đổi cho Âu Châu mà họ muốn cho tất cả thế giới phải thay đổi. Kết quả Âu Châu và thế giới xa lìa quá khứ đạo lý và văn minh đã có từ ngàn xưa. Tình trạng thay đổi này tiếp nối qua thế kỷ XX và XXI. Sự đoạn tuyệt với Đạo Lý của quá khứ xảy ra giữa sự bừng dậy của khoa học kỹ thuật và những khám phá mới,với suy tư mới và cảm nhận mới. Trào lưu mới này không chỉ làm sụp đổ những trật tự chính trị, xã hội và ổn định mà còn làm mất mát những giá trị cổ xưa.Từ đó đưa đến những đau khổ bấn loạn cho phần lớn nhân loại mà chưa từng thấy xảy ra trong lịch sử của thế giới.

Sự bành trướng của văn minh Tây Phương lan tràn khắp thế giới, bắt đầu từ thời Trung Cổ. Những cuộc phiêu lưu để khám phá và thuộc địa hóa các quốc gia khởi đi từ thế kỷ XVI. Các quốc gia Âu Châu đã thành lập nên những lực lượng chính trị, quân sự và kỹ thuật siêu đẳng, so với tất cả thế giới. Vì thế vào 1870 có những cuộc bành trướng lớn lao, với những nhóm nhỏ của các quốc gia tiền tiến tại Âu Châu, chẳng bao lâu đã trở thành những kẻ thống trị cả thế giới. Các quốc gia Âu Châu với những tham vọng kinh tế, lòng kiêu hãnh quốc gia đã đưa họ vào những tranh giành xâu xé lẫn nhau. Vào 1914 các đế quốc thực dân Tây Phương đã kiểm soát gần 70 quốc gia trên thế giới,và kiểm soát 79% đất đai trên toàn thế giới. Ho dựng lên một thứ trật tự mới của đế quốc thực dân, nhưng khác với đế quốc La Mã thủa xưa, thay vì tôn trọng các nến văn minh văn hóa của các quốc gia bị trị, các đế quốc thực dân đã phá tan nền văn minh và văn hóa của các thuộc địa.

Những quốc gia trở thành đế quốc thực dân vào thế kỷ XIX có cả Âu Châu và Nhật Bản tại Á Châu. Đây không chỉ là những cuộc xâm lăng, bên cạnh đó còn có tầng lớp tu sĩ đi truyền giáo. Nhóm còn lại tự cho họ là những chủng tộc siêu đẳng (racial superior) để đi giáo huấn nhân loại.Kế đến là những người làm thương mại đi kiếm vàng bạc, các nhà kỹ nghệ ham muốn nguyên liệu và thị trường, họ chỉ biết bóc lột, nhóm này bóc lột tài nguyên và sức lao động của các dân bị thống trị, tệ hơn nữa thực dân Âu Châu còn tạo ra các cuộc xâm lăng văn hóa để đem đến các quốc gia bị trị nền văn hóa, tín ngưỡng, và những giá trị của đế quốc---thông thường họ nhân danh Thiên Chúa, và coi sự chiếm đóng của họ tại các thuộc địa là quyền năng và hào quang của họ.

Bây giờ tầng lớp trí thức đứng lên nói và viết về: “nhiệm vụ quốc gia của họ”. Ngay cả các thường dân (common people) của họ cũng bày đặt “vác cờ quốc gia” để đi kiếm chác trên các vùng đất khổ đau bị thành thuộc địa. Tất cả đã trở thành “tai ách nặng nề của người da trắng”

PHONG TRÀO THỰC DÂN TÂY PHƯƠNG


Các học giả Tây Phương cho rằng Á Châu có hai nền văn minh lớn là Ấn Độ và Trung Hoa, nhưng đã thua kém Tây Phương quá xa về kỹ thuật. Các quốc gia Tây Phương đã phá đổ Vạn Lý Trường Thành để đặt chân vào Hoa Lục với tất cả sức mạnh siêu đẳng về khoa học kỹ thuật để xâu xé Hoa Lục và áp lực để cho các đế quốc thực dân như Anh, Pháp, Đức Nga và có cả Nhật đều hưởng những đặc quyền về thương mại. Hoa lục bị chia thành tô giới, với những người Âu Châu được tự do đi xây dựng các cơ sở thương mại mà họ chỉ lệ thuộc vào luật lệ quốc gia của họ. Chính quyền Hoa Lục bị tuớc đoạt quyền kiểm soát ngoại thương.

Sự áp đặt của Tây Phương đã đưa đến những thảm họa lớn lao về cả cơ cấu và tinh thần. Các sử gia cho rằng văn minh kỹ nghệ của Tây Phương đã thành một lực lượng gây tổn hại đau thương quá nặng nề chưa từng thấy cho các nền văn hóa bị họ đô hộ. Những chấn động về văn hóa bắt nguồn từ những bóc lột kinh tế.

Dù sao, cuối cùng cũng chính các phong trào thực dân đã đẩy mạnh các sắc dân lạc hậu đi vào con đường phát triển thế giới như những đường xá, đường xe lửa, những hệ thống y tế, những bệnh viện và những trường học.

Những phong trào thực dân đi chiếm đóng các thuộc địa gần 70 quốc gia là những trang sử nhơ nhớp và tăm tối mà các quốc gia Âu Châu đã đem đến cho những quốc gia yếu kém và lạc hậu hơn mình bên cạnh những mất mát lớn lao về vật chất. Nền văn minh vật chất và phàm tục (secular civilization) của Âu Châu đã làm sụp đổ các nền Đạo lý và văn hóa của các quốc gia bị đô hộ để gieo vào đó không phải Đạo lý của Thiên Chúa, mặc dù họ nhân danh Kito giáo, nhưng họ chỉ là những con chiên đội lốt chiên. Tất cả tư tưởng của thời Phục Hưng và Thời Ánh Sáng vào thế kỷ XVIII là duy lý, cá nhân chủ nghĩa phàm tục,thực nghiệm và vô thần đã được rao truyền,giảng dậy khắp thế giới để dìm chết Đạo lý,đời sống tinh thần và tâm linh để đẩy cả nhân loại vào thời kỳ mà đời sống tinh thần hoàn toàn bị phá sản mà Phật giáo gọi là MẠT PHÁP. Mạt pháp cũng có nghĩa là THIÊN TÍNH của con người đã hoàn toàn bị vùi lấp hay mất đi; khi ấy con người sống với bản năng rất tăm tối của THÚ TÍNH.

Đây đúng là một thảm họa mất mát vĩ đại của văn minh nhân loại. Vì thế ngày nay chúng ta gọi nền văn minh Tây Phương là nền văn minh phản đạo (apostasy). Chính nền văn minh phản đạo của Âu Châu từ mấy thế kỷ nay trở thành văn hóa chung của tất cả nhân loại. Vì thế vấn nạn của văn minh phản đạo này chính là vấn nạn trí thức của cả thế giới thời hiện đại. Chính những con người này đã khuyến khích và xúi dục Âu Châu đi chiếm thuộc địa và khai sinh phong trào thực dân và phong trào cộng sản. Dân tộc Việt là nạn nhân bi thảm nhất của hai phong trào này từ hơn một thế kỷ qua.

Trong cuốn Black of Communism, xuất bản tại Âu Châu vào 2001, tập thể tác giả đã viết trong lời mở đầu rằng tội ác cộng sản chưa được định giá lại một cách chân chính kể cả về hai phương diện lịch sử và đạo đức. Những tác giả này đã xử dụng luật bất thành văn của luật thiên nhiên để thấy phong trào cộng sản đã phạm tội chống lại nhân tính của con người, chống lại con người, tội sát nhân tập thể, chống lại văn minh tinh thần chân chính của nhân loại và chống lại các nền văn hóa của các dân tộc. Tổng kết số nạn nhân của cộng sản như sau: Nga 20 triệu, Hoa Lục 65 triệu, Việt Nam 1 triệu, Bắc Hàn 2 triệu, Cambodia 2 triệu, Đông Âu 1 triệu, Châu Mỹ La Tinh 150.000, Phi Châu 1.7 triệu và Afghanistan 1.5


9. KITO GIÁO VÀ VĂN MINH DÂN CHỦ ĐÃ CỨU THẾ GIỚI VÀ GIẢI PHÓNG THUỘC ĐỊA ĐỂ ĐEM LẠI ĐỘC LẬP CHO 70 QUỐC GIA NHƯ THẾ NÀO?


Ngày 16 tháng 4-1917, ngày Hoa Kỳ bước vào Đệ I Thế Chiến. Đây là ngày đánh dấu lịch sử Hoa Kỳ xoay qua một chiều hướng mới, kể từ ngày đầu xuất hiện tại Jamestown vào 1607, đây là lần thứ ba Hoa Kỳ bước trên một chiều hướng mới của lịch sử để khởi đầu đem tinh thần Cách Mạng Hoa Kỳ vào cách mạng dân chủ toàn cầu trong suốt thế kỷ XX.

Khi Tổng Thống Woodrow Wilson trở thành Tổng Thống Hoa kỳ ngày 4 tháng 3-1913,trong thời gian hai năm chiến tranh đã xảy ra rất tàn khốc, nhưng ông vẫn chưa biết tính sao, làm gì ? Vào 1913 trên thế giới có 7 cường quốc thực dân đang thống trị gần hết thế giới. Đó là Anh, Pháp, Đức, Ý, Nga, Thổ Nhĩ Kỳ và Nhật. Các đế quốc thực dân này thống trị các vùng Phi Châu và Á Châu. Chiến tranh đã bắt đầu giữa các cường quốc, một bên là Đức, Áo, Hung và Thổ Nhĩ Kỳ và các đồng minh của họ. Phe còn lại là Anh, Pháp và Nga. Các đế quốc được dẫn đầu bởi đế quốc Đức,và đế quốc Đức được lãnh đạo bởi những con người rất tin tưởng vào hệ thống đế quốc của họ. Theo Hoa Kỳ đây là cách suy nghĩ rất lỗi thời.

Tổng Thống Wilson cho đó là một điều sai lầm. Ngày 2 tháng 4-1917, ông yêu cầu Quốc Hội tuyên chiến để chống lại đế quốc Đức. Ông tuyên bố rằng:

“Phải làm cho thế giới này thành nơi an toàn cho nền dân chủ. Nền hòa bình của thế giới phải xây từ những kinh nghiệm thử thách của quyền tự do chính trị. Chúng ta không có những ham muốn ích kỷ cho riêng mình, chúng ta cũng chẳng hề muốn xâm lấn ai, và lại càng không muốn thống trị ai cả…trong những ngày sắp tới Hoa Kỳ phải hy sinh xương máu,và đưa ra những nguyên tắc Đạo lý để khai sinh ra quốc gia này và tạo ra hạnh phúc và cuộc sống thanh bình an lạc cho tất cả người dân. Hoa Kỳ đã thừa hưởng được gia sản quý báu đó là THIÊN CHÚA ĐÃ GIÚP CHO HOA KỲ,THÌ HOA KỲ PHẢI GIÚP THẾ GIỚI SỐNG HẠNH PHÚC VÀ THANH BÌNH AN LẠC NHƯ THẾ, không thể làm gì khác được “

Chỉ trong vòng 19 tháng, Hoa Kỳ đã xuất hiện trong một thời gian rất ngắn với vai trò của mình để đi đến chiến thắng. Vào 1917 Hoa Kỳ đã đổ quân vào nước Pháp để giúp Pháp giải phóng đất nước của họ khi bị Đức chiếm đóng. Đây là lần đầu tiên cả trăm ngàn lính trong quân đội Hoa Kỳ đã chiến đấu trên phần đất của ngoại quốc. Cuộc tấn công đã diễn ra 1918 với lực lượng quân sự liên hiệp Anh, Pháp và Mỹ. Cả Âu Châu đã sửng sốt kinh ngạc về sự xuất hiện vô cùng hùng mạnh của quân đội Hoa Kỳ để đưa đến sự chiến thắng chớp nhoáng.

Sự thảm bại của các trung tâm quyền lực do Đức cầm đầu các đế quốc thực dân vào 1918 tại Âu Châu cho thấy tư tưởng và đường lối của họ đã không còn hợp thời nũa. Ý chí cường lực (the will of power) của đế quốc thực dân cho rằng tất cả những vùng đất nào mà họ có thể xâm lăng và chiếm đoạt được thì họ có quyền thống trị, vì các quốc gia này đi theo bước chân của đế quốc La Mã thủa xưa đã từng thống trị cả Đông lẫn Tây suốt bốn thế kỷ.

Vào 1918 Tổng Thống Wilson biết là việc tấn công vào các trung tâm quyền lực của các đế quốc thực dân chỉ là bước khởi đầu mà Hoa Kỳ phải làm trong tầm tay của mình. CHƯƠNG TRÌNH LỚN CỦA ÔNG LÀ XÂY DỰNG MỘT HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ DÂN CHỦ NHƯ HOA KỲ ĐỂ THAY THẾ HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ CỦA THỰC DÂN sau khi sụp đổ. Ngay cả nhiều người Mỹ cũng không thấy đường hướng lớn lao của Tổng Thống Wilson, còn nói gì đến các nơi khác làm sao hiểu được chủ trương của Hoa Kỳ.

Trong khi đó tổng thống Hoa Kỳ luôn luôn biết rõ những gì đang xảy ra trên khắp thế giới. Nhưng vào 1918 thật khó khăn thuyết phục người Mỹ rằng, sự thắng trận là điều ắt có, nhưng chưa đủ, điều quan trọng chiến thắng đế làm gì, đó mới là điều quan trọng. Trọng tâm sau chiến tranh là XÂY DỰNG MỘT HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ VƯƠNG ĐẠO ( idealistic political system) để thay thế hệ thống CHÍNH TRỊ BÁ ĐẠO (devilistic political system) của các đế quốc thực dân mới là điều quan trọng hơn cả.

Vì mục đích lý tưởng này dân- quân Hoa Ký đã hy sinh quá nhiều nhân mạng và tiền bạc cho lý tưởng tự do dân chủ. Tổng Thống Wilson đã đưa ra 14 điểm. Điều đòi hỏi quan trọng nhất là nước Đức phải buông súng và rút ra khỏi Pháp và tất cả các quốc gia khác, nhìn nhận nền độc lập của họ. Điều tối quan trọng là thiết lập hệ thống chính trị vương đạo để thay thế chủ nghĩa đế quốc. Nền móng căn bản là không có quốc gia nào được quyền chiếm đóng lãnh thổ của quốc gia khác với ý chí cường lực của kẻ chiếm đóng, nếu không có sự ưng thuận của người dân nước đó.

Chủ thuyết của wilson là chủ thuyết tự quyết (doctrine of self-determination).TINH THẦN NÀY CŨNG KHÔNG KHÁC GÌ TINH THẦN CỦA TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP HOA KỲ vào 1776---nghĩa là một chính quyền phải có sự chấp thuận của người dân mới được coi là chính quyền chân chính mà thôi. Đệ I Thế Chiến chấm dứt tháng 11-1918.Từ đó Tổng Thống Wilson muốn chấm dứt tất cả các cuộc chiến tranh bằng cách xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn. Thế giới mà các đế quốc thực dân đang cưỡng chiếm và thống trị phải làm cho sụp đổ và tan rã. Tất cả các lãnh tụ khôn ngoan và sáng suốt của thế giới lúc đó đều đồng ý như thế. Tất cả chiến tranh bắt nguồn từ ý nghĩ điên rồ của Kaiser Wilhelm II của Đức đã cho rằng Thiên Chúa đã ban cho hắn quyền thống trị bất cứ mảnh đất nào trên thế giới. Vì thế Wilson muốn ngăn chặn chiến tranh và bảo đảm là không còn ai gây ra chiến tranh nữa, dù bất cứ là ai, Anh, Pháp hay Hoa Kỳ. Ông cho rằng tất cả hệ thống đế quốc đang sụp đổ, không chỉ có đế quốc Đức, đế quốc Nga, đế quốc Áo và đế quốc Thổ Nhĩ Kỳ mà tất cả các đế quốc, kể cả đế quốc Anh và đế quốc Pháp. Trong lúc quân đội của Anh và Pháp đều chiến đấu bên cạnh Hoa Ký một cách can đảm. Nếu Tổng Thống Wilson đã công khai tuyên bố rằng, tất cả các đế quốc thực dân, kể cả Anh và Pháp---tất cả đã trở thành trang sử của quá khứ---vì vậy tất cả các đế quốc thực dân bắt buộc phải từ bỏ thuộc địa để trả lại tự do và độc lập cho tất cả các quốc gia đang bị chiếm đóng.

Tổng Thống Wilson đã đưa ra một Giao Ước của Hội Quốc Liên và hy vọng được coi như một loại Hiến Pháp cho một hệ thống chính trị vương đạo quốc tế (idealistic International political system)) để thay thế chủ nghĩa đế quốc thực dân mà 50 quốc gia đã chấp thuận. Wilson đã đưa giao ước thành văn này vào hiệp ước hòa bình (peace agreement) để thay thế hệ thống đế quốc đã đưa đến Thế chiến I và chiến tranh đã tàn phá cả Âu Châu.

Tất cả tư tưởng đưa ra quá mới mẻ, quá khác biệt với những quan niệm cũ, nhưng đã được mọi người chấp nhận. Bởi vì những vấn đề có liên quan đến Hội Quốc Liên chưa được giải quyết nên đã dẫn đến Thế Chiến II. Phần lớn người Mỹ đã thay đổi khi nhìn vào vấn đề đối ngoại làm cho tình thế rơi vào khó khăn vô cùng nên đã làm cho Wilson thất bại thật đắng cay trong việc duy trì Hội Quốc Liên, trong lúc Wilson là một con người khả kính nhất, cái mà cuộc đời dành cho con người đó là sự đau khổ, và ông đã thất bại quá đau thương. Woodrow Wilson là một con người thật vĩ đại, một con người đã chiến đấu trong một cuộc chiến vĩ đại, và đồng thời chiến đấu cho một lý tưởng vĩ đại nhất (greatest idealism), và cao cả nhất.

Wilson không chỉ gặp những chống đối dữ dội bởi phần lớn các lãnh tụ Âu Châu, đặc biệt là Clemen Ceau của nước Pháp và Loyd George của nước Anh, vì đây là hai đế quốc thực dân có nhiều thuộc địa nhất trên thế giới. Mãi đến khi họ hiểu được thì họ đã chấp nhận, dù vẫn còn chút nghi ngờ.

Bên cạnh những chống đối của các lãnh tụ thực dân Âu Châu; ngay tại Mỹ Wilson cũng bị chống đối mãnh liệt bởi một nhóm chính trị gia rất nhỏ, cầm đầu bởi Thượng Nghị Sĩ Henry Cambologe, là ông nội của Henry Cambologe, sau 40 năm là Đại Biểu của Hoa Kỳ tại Liên Hiệp Quốc. Các sử gia cho rằng, chính nhóm chính trị gia nhỏ này đã làm tiêu tan Hội Quốc Liên; bởi vì họ không chấp nhận đề nghị nào của Wilson đưa ra. Nhiều người Mỹ không muốn thay đổi và thấy không có nhu cầu thay đổi. Họ không thực sự hiểu chuyện gì đang xảy ra trên thế giới. Đó là lỗi của chính trị đảng phái, vì cho rằng Hoa Kỳ không có gì phải hợp tác với Âu Châu, nơi mà họ đã quay lưng bỏ đi.

Wilson trở lại Hoa Kỳ từ Paris với bao bệnh tật vào 1919. Wilson cố gắng cứu Hội Quốc Liên và đã đưa đến cái chết cho chính ông. Sự sống của ông quá mong manh vì bệnh tật, nhưng ông vẫn cố gắng để cứu thế giới. Bác sĩ buộc ông phải trở về Washington bằng xe lửa, nhưng đã quá trễ. Trong nhiều tuần nằm mê mệt trên giường bệnh, ông chẳng màng gì đến mạng sống của riêng ông. Wilson tin tưởng với tất cả tâm hồn của ông trong cuộc chiến đấu gian nan này, và cho đó là việc làm cần thiết, không chỉ cho nước Mỹ mà cho cả thế giới, nhất là cứu vớt các quốc gia nhỏ bé đang đau khổ trong vòng tay thống trị của đế quốc thực dân,và xây dựng hòa bình cho thế giới. Và con người vĩ đại đó trong tư cách Tổng Tư Lệnh Quân Lực Hoa Kỳ, ông chấp nhận mọi gian nan và rủi ro, và ông đã gục ngã. Ông đã chết cho lý tưởng vĩ đại của văn minh dân chủ mà các Quốc Phụ Hoa Kỳ muốn dâng hiến cho nhân loại.

Wilson là người nhìn xa trông rộng với viễn kiến của ông, ông thấy được tương lai. Hơn bất cứ ai khác, Wilson tin rằng thế giới này không thể quay đầu về với đường xưa lối cũ---bởi vì tất cả mọi nơi, không chỉ có Âu Châu, mà có cả Á Châu và Phi Châu, cũng có rất nhiều người đã suy nghĩ như Washington, Jefferson và Franklin đã từng suy nghĩ rằng, “KHÔNG CÓ QUỐC GIA NÀO CÓ QUYỀN CAI TRỊ BẤT CỨ NGƯỜI NÀO---NGOẠI TRỪ CÓ SỰ ƯNG THUẬN CỦA DÂN “.

Ngày nay mọi người nhận thấy Wilson quá đúng, nếu chúng ta đi ngược lại sẽ có chiến tranh. Wilson đã tiên đoán Thế Chiến II sẽ khủng khiếp hơn Thế Chiến I. Ông đã cảnh cáo tất cả mọi người là,” Thế Chiến II sẽ tàn phá gần hết Âu Châu”,và lời cảnh cáo của ông đã xảy ra đúng như thế.

Thật thê thảm, lịch sử của 40 năm vừa qua chỉ cho thấy hậu quả của sự lầm lạc quá tai hại. Lầm lẫn của một số người tưởng là đạt được quyền lực nhờ triệt hạ Wilson thật tàn nhẫn. Và Hội Quốc Liên bây giờ ở đâu? Người ta sẽ quay lại với hệ thống đế quốc, và hệ thống đó chắc chắn sẽ đưa đến chiến tranh---và 20 năm sau họ đã gây ra chiến tranh thật. Nếu Hội Quốc Liên được duy trì, củng cố vững mạnh thì có thể ngăn chặn được chiến tranh, và Thế Chiến II có thể đã không xảy ra.

Dù Wilson là một con người vĩ đại nhưng không phải con người toàn vẹn. Ông đã lầm lẫn khi chỉ chú ý tới đế quốc thực dân mà không lưu tâm tới đế quốc cộng sản, là một thứ đế quốc tồi bại hơn cả thực dân. Cộng sản hoàn toàn tin vào bạo lực. Hoa Kỳ không tin vào bạo lực mà tin vào sức mạnh của đạo đức và công lý sẽ giải quyết mọi vấn đề cho con người. Hoa Kỳ muốn xây dựng hòa bình. Với cộng sản,ai không chấp nhận họ thì bị biến thành nô lệ hay giết đi. Hoa kỳ yêu chuộng tự do và phục vụ người dân. Cộng sản chủ trương bạo lực thuần túy và toàn dân phải phục vụ đảng.Và thực tế lịch sử cho thấy cộng sản hoàn toàn sai lầm.Wilson nói: “Hoa Kỳ không bao giờ quên trách vụ đạo đức với tất cả thế giới. Chúng ta đã làm nhiệm vụ đạo đức của chúng ta trong chiến tranh, và chúng ta có được cái gì đâu? Nhiều người chết quá! Thuế má nặng quá! Và quốc gia rơi vải nợ nần chồng chất. Nhưng chúng ta đã đẩy được Hoàng Đế Đức ra khỏi ngai vàng và đế quốc Đức đã sụp đổ để cứu cả Âu Châu.”

Đế quốc Đức đã thất trận và chịu bồi thường chiến tranh. Nhưng Hội Quốc Liên không có Hoa Kỳ thì không có ai đủ sức để phán xét điều gì. Lỗi lầm lớn nhất của Đệ I Thế Chiến là không thay thế hệ thống đế quốc bằng một hệ thống chính trị vương đạo quốc tế. Hai mươi năm sau Hitler và Mussolini đã xuất hiện. Mussolini đi vào lính với cấp bậc binh nhì, Hitler là hạ sĩ và cả hai đã đưa đất nước vào chiến tranh, tàn phá đất nước và đưa đất nước vào chỗ tan hoang nhục nhã nhất. Cuối cùng cả hai đều chết thảm thiết. Chính dân Ý đã giết Mussolini như một con gà và treo xác hắn tòng teng trên cây. Hitler hoảng hốt tự tử và sau đó bị dân tưới xăng đốt hắn như cây đuốc. Các sử gia cho rằng: cả hai tên này đều là thứ hạ đẳng, điên rồ, không có đầu óc và rất tồi bại thấp hèn, cả hai đã phá tan thế giới mà chúng ta đang sống. Cả hai đã hướng dẫn nước Đức và Ý đi vào con đường lầm lạc và tai vạ.

Nếu một hệ thống chính trị vương đạo được duy trì, củng cố vững mạnh thì có thể ngăn chặn được chiến tranh. ĐÓ LÀ BÀI HỌC QUÁ NGHIÊM TRỌNG CHO TƯƠNG LAI. ĐỪNG BAO GIỜ CHO PHÉP XẢY RA NỮA. Bọn Fascist đã nắm quyền lực trong hận thù. Cuối cùng Hitler cần có ai để hắn trút mọi hận thù? Hắn khuấy động tâm tư của những người Đức khờ khạo và ngu dốt để dẫn họ vào con đường hận thù mù quáng để tàn sát 6 triệu người Do Thái vô tội.

Hitler khinh bỉ và miệt thị tất cả các chủng tộc khác, và cho rằng chỉ có dân Đức là cao cả rất thích hợp để thống trị thế giới. Hắn tuyên bố là dân Đức là người được Thiên Chúa chọn, là chủng tộc siêu đẳng (master race) của nhân loại. Hắn nắm trọn quyền lực tại Đức vào 1933 và bắt đầu một triều đại đẫm máu và kinh hoàng,và sau 12 năm mới dừng lại và chỉ thực sự chấm dứt khi Hitler và đất nước của hắn bị hủy diệt tan hoang,và cả Âu Châu cũng điêu tàn đổ nát thê thảm hơn Thế Chiến I.

Làn sóng độc tài lan tràn khắp Âu Châu, và sau đó lan tràn khắp thế giới dưới ba hình thức độc tài là Fascist, nazist và cộng sản. Cả ba làn sóng độc tài đưa đến những đe dọa nghiêm trọng cho chế độ dân chủ. Độc tài có nghĩa là chỉ có chính quyền của họ đúng, còn tất cả đều sai lầm. Nhà nước của họ không bao giờ sai, và họ nắm trọn quyền lực quốc gia. Đối với người Mỹ thì không có chính quyền nào có trọn vẹn tất cả quyền lực được--- bởi vì chính quyền không bao giờ và sẽ không bao giờ hoàn toàn đúng cả.Tất cả con người đều có những lỗi lầm sai quấy.Vì thế một hình thức chính quyền tốt nhất là loại làm sao có thể khám phá dễ dàng mọi lầm lẫn của chính quyền. Muốn được như thế thì người dân cần phải có tự do để họ vạch ra những lỗi lầm của chính quyền; có như thế mới sớm sửa sai được. Đó là lý do tại sao phải có tự do ngôn luận.

Làn sóng tư tưởng độc tài lan tràn khắp Âu Châu. Đầu tiên là tại Nga, rồi tới Ý, Đức. Đúng là tư tưởng đế quốc lỗi thời lại trở lại với các nhà độc tài để thay thế các đế vương chuyên chế. Từ đó những tên độc tài như Mussolini, Hitler, Lenine, Staline, Mao Trạch Đông, Hồ Chí Minh tiến lên để đưa mọi thảm họa đến cho chúng ta.

Vì thế Woodrow Wilson mới đưa ra một tư tưởng mới để hướng dẫn về bang giao quốc tế: “hãy làm cho thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ”. Nhiều người Mỹ chủ trương vô trách nhiệm với thế giới. Nhưng theo Wilson thì đây là một trách nhiệm của cả thế giới, và thế giới phải nắm tay đoàn kết lại để bắt bọn đế quốc phải dừng tay lại.

Khi chiến tranh tại Âu Châu bùng nổ vào 1939, nhiều người Mỹ kêu gọi Hoa Kỳ nên sống cô lập với thế giới. Nhưng Roosevelt muốn đem Mỹ tham gia vào, vì ông đã hiểu những gì Wilson nói trước đây 20 năm. Nếu một quốc gia có quyền lực, quốc gia đó không thể chối bỏ trách nhiệm xử dụng quyền lực ấy để cứu nhân độ thế. Vào 1937 tại Chicago, Roosevelt đã nói rằng, độc tài đang lan tràn như một thứ bệnh truyền nhiễm, và các quốc gia tự do phải liên kết với nhau để chống lại bệnh dịch ấy. Roosevelt thuyết phục Quốc Hội bỏ phiếu cho một ngân khoản lớn để xây dựng quốc phòng, và xây dựng cơ xưởng chế xe tăng, máy bay, tàu bè và võ khí để bán cho Âu Châu. Vì vậy kinh tế đã mau phục hồi nhanh chóng.

Vào 1941 Roosevelt và Churchill đã gặp nhau tại New Foundland. Đến tháng 8-1941 cả hai đã cho công bố một thỏa ước đó là bản Hiến Chương của khối Nato. Mục tiêu là xây dựng hòa bình để các quốc gia được sống an toàn trên lãnh thổ của họ. Và bản Hiến Chương có sự bảo đảm là tất cả con người đang sống trong các quốc gia có quyền sống tự do và không sợ hãi. Ngay sau đó đã có 15 quốc gia xin ký tên vào bản Hiến Chương.

Hitler đã từng tuyên bố rằng hắn sẽ lấy nước Anh dễ dàng như nắm cổ một con gà.Tháng 6-1941 Đức tấn công Nga vào Moscow và Stalingrad. Chiến tranh Đệ II Thế Chiến (1941-1945) là một cuộc chiến tranh dài nhất, tàn bạo nhất, và đẫm máu nhất mà Hoa Kỳ đã chiến đấu kể từ thời nội chiến. Trong Thế Chiến II có hai cuộc chiến đã diễn ra cùng lúc. Một ở Đại Tây Dương và hai là Thái Bình Dương gồm cả địa chiến, không chiến và hải chiến. Nhật đã tấn công Trân Châu Cảng, tàn phá hầu hết các máy bay của Hoa Kỳ. Ngày 8 tháng 12-1941 cả Đức và Ý tuyên chiến với Hoa Kỳ.

Một tay Hoa Kỳ một lúc phải đương đầu với hai cuộc chiến ở hai phía của trái đất. Hoa Kỳ quay qua Âu Châu để đánh gục chủ nghĩa độc tài và làm cho thế giới thành nơi an toàn cho nền dân chủ. Hoa Kỳ có một sức mạnh thật vĩ đại. “Tại Âu Châu Hoa Kỳ đã chiến đấu cho tự do chống lại độc tài. Tại Thái Bình Dương, Hoa Ký đã chiến đấu cho quyền sống của con người---chiến đấu cho tự do và chúng ta muốn dạy cho người Nhật và tất cả những người khác nữa---rằng bất cứ ai bắn vào lá cờ Mỹ thì họ phải lãnh nhận lấy sự tàn phá mà không tránh được”

Hoa Kỳ đã xác dịnh mục tiêu của chiến tranh: “CHIẾN TRANH LÀ CHIẾN TRANH CHỐNG ĐỘC TÀI và CHIẾN TRANH LÀ CHIẾN TRANH ĐÒI QUYỀN SỐNG CHO CON NGƯỜI”.

Mục tiêu này cho thấy vị trí và vai trò của Hoa Kỳ trên thế giới hoàn toàn khác biệt vô cùng lớn lao so với tất cả các quốc gia khác trên toàn thế giới. Mọi người nên nhớ rằng, điều gì người dân Hoa Kỳ đòi hỏi, điều đó phải được hoàn tất cho quốc gia này, hoặc tối thiểu có sự đồng thuận của dân. Một mình Quốc Hội có thể tuyên chiến, và một mình Tổng Thống có thể ra lệnh cho quân lực. Nhưng nếu Quốc Hội và Tổng Thống làm điều gì mà người dân không thích thì Quốc Hội và Tổng thống có thể bị loại bỏ để người dân chọn người khác vào những chức vụ đó. Vì thế các viên chức trong chính quyền Mỹ có trách nhiệm với dân hơn bất cứ chính quyền của các quốc gia khác trên thế giới. Khi một vấn nạn nghiêm trọng xảy ra, quyết định của Hoa Kỳ sẽ tác động vào cả thế giới, và sau chót là ý chí của người dân Hoa Kỳ đã nêu lên quyết định cho Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ phải đối đầu một lúc với ba kẻ thù cực kỳ nguy hiểm là fascist, Đức Quốc Xã và cộng sản trên hai trận tuyến là Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Tướng Mac Arthur là tư lệnh Thái Bình Dương, có đề đốc King. Tướng Eisenhower là tư lệnh các mặt trận tại Âu Châu và Phi Châu. Liên quân Anh-Pháp Mỹ đã sát cánh bên nhau tại Âu Châu. Riêng trận Normandy tại bờ biển Omaha và Utah vào ngày 6 tháng 6-1944 Hoa Kỳ đã xử dụng 4000 chiếc tàu để chở quân tới mặt trận này. Để bảo vệ cho đoàn tầu này có 600 chiến hạm đi theo bảo vệ,và 11.000 máy bay tham dự trận đánh.

Tướng Eisenhower đã đổ bộ 1 triệu quân trong vòng một tháng cùng với 70.000 xe tăng và xe vận tải cũng như các loại quân xa khác. Trận đánh tiếp vào mùa đông, Đức bị bom nặng nề nhất.Tất cả các thành phố Âu Châu đều tan hoang đổ nát. Ngày 24 tháng 3-1945 Nga tiến vào Bá Linh, Hitler tự tử và 5 ngày sau Đức đầu hàng.

Tại Thái Bình Dương, Nhật biết sẽ thua nhưng vẫn cứng cổ, buộc Hoa Kỳ phải bỏ bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki ngày 9 tháng 8-1945, sau đó Nhật đã đầu hàng. Đây là một cuộc chiến tranh lớn lao nhất mà Hoa Kỳ chưa từng chiến đấu. Nhưng lại là trang sử rự rỡ và oanh liệt nhất của quân đội Hoa Kỳ gồm có bộ binh, không quân và hải quân, đưa đến cho Hoa Kỳ những danh tướng lừng lẫy như Eisenhower,Mac Arthur và Nimitz. TỪ CÁC CUỘC CHIẾN KHỦNG KHIẾP NÀY, NHỮNG NGƯỜI KITO GIÁO HOA KỲ ĐÃ CỨU CẢ ĐÔNG PHƯƠNG VÀ TÂY PHƯƠNG. Toàn dân Mỹ phải hy sinh quá lớn lao cho cả thế giới---nhưng từ đó đã đưa Hoa Kỳ VÀO VỊ TRÍ LÃNH ĐẠO TẤT CẢ CÁC QUỐC GIA DÂN CHỦ TRÊN TOÀN THẾ GIỚI ĐỂ XÂY DỰNG TỰ DO, DÂN CHỦ VÀ HÒA BÌNH CHO TẤT CẢ NHÂN LOẠI. Mặc dù Hoa Kỳ không muốn lãnh đạo bất cứ ai, điều đó đã chứng minh sau Thế chiến I. Nhưng Thế Chiến II đã đưa đảy Hoa Kỳ vào vị trí lãnh đạo cả thế giới. Nếu Hoa Kỳ từ chối vị trí và vai trò đó, thế Chiến III sẽ xảy ra, rồi hết chiến tranh này đến chiến tranh khác sẽ tiếp nối thì nhân loại sẽ đi về đâu?

Sự tàn phá kinh hoàng của Hiroshima và Nagasaki bằng nguyên tử cho thấy nếu thế chiến III xảy ra sự tàn phá sẽ không sao lường được. Kinh nghiệm đau thương của Thế Chiến II làm cho Hoa Kỳ sợ hãi cho thấy không có Hội Quốc Liên để liên kết tất cả các quốc gia với nhau để ngăn chặn thì không tránh được thảm họa. Sự tàn phá của bom nguyên tử cho thấy điều đó. Nhật đã thất trận nhục nhã và nước Nhật tan hoang. Mussolini và Hitler bị giết như những con vật bẩn thỉu làm cho con người ghê tởm.

Và Hoa Kỳ, từ 1607 đến 1776 lịch sử đã khai sinh ra một quốc gia, lúc khởi đầu chỉ có 50 người từ chiếc tàu Mayflower cập bến Jamestown để xây nên một quốc gia sau này cho bao triệu người được sống tự do, thanh bình an lạc và hạnh phúc---và nếu họ tiếp tục sống cô lập với thế giới bên ngoài, Hoa Kỳ vẫn là quốc gia giầu nhất thế giới và hạnh phúc nhất. Nhưng người dân Hoa Kỳ, dẫn đầu bằng những người kito giáo thuộc trường phái TU TÂM của những người Puritans muốn anh em đồng loại trên khắp thế giới cũng được sống tự do, thanh bình và hạnh phúc như họ---nên Tổng Thống Wilson đã dẫn dắt Hoa Kỳ dấn thân vào thế giới để thực hành giấc mơ của các Quốc Phụ Hoa Kỳ (the Founding Fathers)là cứu vớt nhân loại từ Đông Phương qua Tây Phương thoát khỏi nanh vuốt hãi hùng của các đế quốc thực dân và các làn sóng độc tài đang làm tình làm tội anh em đồng loại của họ.

Từ 1776 khi cuộc chiến tranh giành độc lập từ tay đế quốc Anh để lập nên quốc gia vĩ đại này. Sau 1917 một quốc gia chỉ mới có 13 tiểu bang đã trở thành một quốc gia lãnh đạo cả thế giới tự do dân chủ. Thực tế của lịch sử cho thấy thế giới tự do muốn sống còn thì phải đoàn kết lại với nhau để ngăn chặn các đế quốc và làn sóng độc tài để bảo vệ quyền tự do và quyền sống của mình.

Đúng như Woodrow Wilson và Roosevelt đã cho biết trước là---Hoa Kỳ không muốn lãnh đạo ai cả, nhưng nếu thế giới không có ai thì Hoa Ký đành phải chấp nhận vai trò và trách nhiệm lớn lao và khó khăn đó. Tuy nhiên cả hai vị tổng thống này đều xác định thêm rằng:“MỘT QUỐC GIA LÃNH ĐẠO MÀ KHÔNG BAO GIỜ THÀNH ĐẾ QUỐC”. Đó là một quốc gia sẵn sàng củng cố vững mạnh đời sống quốc gia, và đồng thời sẵn sàng đối phó với những biến động của thế giới. Đúng như Abraham Lincoln đã từng nói: “phải làm tất cả mọi điều để đạt được tới sự CÔNG CHÍNH và NỀN HÒA BÌNH LÂU DÀI cho chính chúng ta và cho tất cả các quốc gia khác. Tất cả ba vị tổng thống đều đã quá đúng.

Ngay từ lúc bắt đầu chiến tranh, Tổng Thống Roosevelt đã không nghi ngờ gì vế sự chiến thắng, ông đã nhìn thấy chiến thắng như Wilson đã nhìn thấy từ 1919. Ông sẽ dẫn thế giới đến một nền hòa bình lâu dài. Đức đã đầu hàng vô điều kiện, Roosevelt và Churchill đã viết Hiến Chương Bắc Đại Tây Dương.

Tất cả những lãnh tụ đứng đầu các quốc gia đều đã chiến đấu trong gian khổ. Anh-Pháp-Nga-Tàu và Mỹ, ngày nay tất cả đã đồng ý xây dựng đời sống trên luật pháp công minh, từ đó đã đồng ý thành lập Liên Hiệp Quốc. Tất cả đều đã đồng ý sẽ không còn có ai đi chiếm đoạt bất cứ lãnh thổ nào, ngoài trừ phần đất mà kẻ thù đã chiếm đoạt của họ,và không ai có quyền thống trị ai nếu dân không chấp thuận.

Sau cái chết thảm thiết của Hitler 18 ngày, Roosevelt cũng nằm xuống. Cả nước Mỹ và thế giới rúng động, nhưng không ai hiểu là ông đã bị kiệt sức sau những cố gắng quá mức cho chiến tranh. Cả Wilson và Roosevelt đã gục chết vì nước Mỹ, gục chết vì con đường CHÍNH TRỊ VƯƠNG ĐẠO CỦA CÁC QUỐC PHỤ HOA KỲ MUỐN ĐEM ÁP DỤNG TRÊN TOÀN THẾ GIỚI, và gục chết CHO TỰ DO, ĐỘC LẬP VÀ TOÀN VẸN LÃNH THỔ CỦA GẦN 70 QUỐC GIA ĐANG BỊ CÁC ĐẾ QUỐC THỰC DÂN ĐÔ HỘ,và gục chết vì NỀN HÒA BÌNH CỦA NHÂN LOẠI.

Wilson đã thất bại đắng cay và tủi nhục bằng cái chết của chính ông. Nhưng Roosevelt đã chiến thắng lừng lẫy. Wilson đã gieo mầm cho những hạt giống tư tưởng chính trị công chính trác tuyệt và Roosevelt đem đi thực hành trên khắp thế giới. Trước Liên Hiệp Quốc sau Thế Chiến II Roosevelt tuyên bố: “thực tế cho thấy Wilson đã báo động cho chúng ta quá đúng. Điểm chính yếu mà Wilson đem đế cho thế giới chính trị là---NHỮNG CƯỜNG QUỐC HÙNG MẠNH PHẢI CHỊU TRÁCH NHIỆM DUY TRÌ VÀ BẢO VỆ LUẬT PHÁP CÔNG CHÍNH VÀ TRẬT TỰ ĐẠO ĐỨC CỦA THẾ GIỚI.

Tất cả các đế quốc thực dân và các nhà độc tài đều đã ôm ấp giấc mơ như đế quốc La Mã thủa xưa. Đó là những kẻ tự viết luật—luật của kẻ mạnh hiếp yếu, đó là luật của rừng xanh. Phần chính của Wilson là không có quốc gia nào viết luật. Luật ấy phải do toàn dân của nước đó viết ra. Và quốc gia nào hùng cường mạnh mẽ nhất phải thi hành luật pháp ấy---luật đó là luật của đạo đức và công lý của quốc gia Hoa Kỳ, mà Hoa Kỳ muốn các quốc gia yêu chuộng tự do và hòa bình thì nên mô phỏng mà viết ra.

Trước đây có những người Mỹ thuyết phục Wilson đứng ngoài Hội Quôc Liên. Nhưng đến thời Roosevelt thì ông nói rằng, “nếu không có Hội Quốc Liên, hoặc không có Liên Hiệp Quốc, hoặc bất cứ một tổ chức nào thì con người nhìn thấy gì, ngoài chiến tranh? Và bây giờ chiến tranh tàn phá quá khủng khiếp và tiếp tục bùng nổ. Chưa có câu trả lời cho thực tế đó.” Vì vậy vào 1945 người Mỹ phải tham dự vào Liên Hiệp Quốc, Roosevelt còn tiến xa hơn nữa. Nếu bổn phận của chúng ta là thi hành luật (enforce the law) thì có hai cách, một là bằng sức mạnh vũ lực, làm cho người ta sợ mà giữ nhân cách. Đây là cách chúng ta đối với tội phạm. Cách còn lại là một uy danh lớn lao, duy trì và bảo vệ uy danh lớn lao đó BẰNG CÁCH THỰC THI ĐƯỜNG LỐI CÔNG CHÍNH VÀ CÔNG BÌNH VỚI MỌI NGƯỜI; có như thế thì mới không có những tội phạm cứng đầu với chúng ta, và giởn mặt với quyền lực của chúng ta. Nếu Hoa Kỳ xây dựng hòa bình trên nền tảng công lý cho các quốc gia thì tại Hoa Kỳ, hòa bình cũng đặt trên nền tảng công lý đó. Đó là đường hướng New Deal của Roosevelt.

TỪ SỰ THẬT ĐÓ CHO THẤY SỨC MẠNH CỦA ĐẠO ĐỨC VÀ CÔNG LÝ LÀ MỘT VÕ KHÍ THIÊNG LIÊNG VÀ MÀU NHIỆM NHẤT MÀ THẾ GIỚI CHÍNH TRỊ, CÁCH MẠNG CỦA CON NGƯỜI CHƯA HIỂU ĐƯỢC VÀ CHƯA BIẾT XỬ DỤNG.

Trên dòng lịch sử quá đen tối của gần 70 quốc gia đang bị bảy đế quốc thực dân Âu Châu thống trị gần 500 năm qua. Tổng Thống Woodrow Wilson đã dứng lên hướng dẫn 13 Tiểu Bang Hoa Kỳ đang sống cô lập với thế giới bên ngoài để cứu những con người bất hạnh và đau khổ đang sống trong ách nô lệ của các đế quốc thực dân vào Thế Chiến I (1914-1918).Và ông đã thất bại và gục chết quá đau thương, vì sự chống đối của một số nhỏ chính trị gia Mỹ cầm đầu bởi Thượng Ngị Sĩ Hery Cambolodge, nhưng Roosevelt đã nối tiếp bước chân vĩ đại của Wilson để gánh thêm một gánh nặng lịch sử thứ hai là Thế Chiến II (1939-1945), rồi ông cũng đột ngột nằm xuống, vì sinh lực giới hạn của một người đã trút hết trong những nỗ lực chiến tranh để cứu cả Đông Phương và Tây Phương thoát khõi bàn tay tàn bạo của những đế quốc thực dân, fascist Nhật, fascist Ý, Đức Quốc Xã, và cộng sản đang đe dọa cả thế giới.

Cuối cùng Harry Truman sau khi đắc cử tổng thống đã bắt người dân Hoa Kỳ gánh thêm một gánh nặng lịch sử thứ ba là Chiến Tranh Lạnh với Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản do Nga Sô cầm đầu (1947-1989).Tại Thái Bình Dương Nga tấn công Nhật tại Manchuria. Truman sợ nếu tấn công Nhật sẽ chết cả triệu người. Ông tuyên bố, nếu Nhật không đầu hàng thì sẽ ném bom. Ông kêu gọi chính quyền Nhật phải đầu hàng nếu không sẽ cho mưa bom xuống Tokyo. Buổi sáng ngày 6 tháng 8-1945 bom nguyên tử đã thả xuống Hiroshima và Nagasaki, cả hai thành phố đều tan hoang và Nhật đã đầu hàng.

Lần đầu tiên cả thế giới rúng động trước sức mạnh siêu việt của Hoa Kỳ, và Hoa Kỳ tuyên bố: “chúng ta trở thành lãnh tụ thế giới với các quốc gia tự do, chúng ta có khả năng để dẫn dắt cả thế giới này đến với nền hòa bình và thịnh vượng và không phải đến với chiến tranh.”

Khi Truman thành tổng thống Hoa Kỳ thì 5 quốc gia như Anh-Pháp-Nga-Mỹ và Tàu đều đã thảo luận xong một dự án, và đều đã đồng ý thành lập tổ chức Liên Hiệp Quốc---với hy vọng bảo vệ hòa bình cho thế giới. Hiến Chương đã được 50 Đại Biểu của 50 quốc gia đến họp tại San Francisco và cùng ký vào mùa xuân 1945 để bảo vệ nền hòa bình cho thế giới. Trước đó cả Churchill, Staline và Roosevelt đều hứa là không xâm lăng lãnh thổ của người khác. Riêng Nga có ý định không tuân theo, vì thế mới có Chiến Tranh Lạnh giữa khối tự do và độc tài cộng sản.

Chiến Tranh Lạnh là chiến tranh Ý Thức Hệ (ideological warfare) giữa lý tưởng tự do dân chủ và cộng sản độc tài. Ngày 12 tháng 3-1947 Truman đã đưa ra chủ thuyết Truman (Truman doctrine).Theo chủ thuyết này, nếu cộng sản xử dụng bạo lực để bành trướng vào các quốc gia khác. Hoa Kỳ sẽ xử dụng sức mạnh quân sự để ngăn chặn lại làn sóng cộng sản (containment policy). Vì Hoa Kỳ muốn bảo vệ hòa bình nên phải xử dụng bạo lực để ngăn chặn mà không tiêu diệt đối phương. Chỉ vì Truman nhìn thấy chiến tranh tàn phá quá khủng khiếp, nhà cửa, xưởng máy, máy móc và gần như tất cả mọi thứ mà chiến tranh đã để lại cho các nước Âu Châu là sự đau khổ, tuyệt vọng, hỗn loạn và nghèo đói. Vì thế các quốc gia Âu Châu sát cánh bên nhau và phải làm gì cho người dân thoát khỏi đói kém cho đến khi mọi sự được tái thiết lại.

Bài diễn văn lừng lẫy của Truman đã được 16 quốc gia hân hoan đón nhận. Nhưng Nga không chấp nhận sự trợ giúp tái thiết của chương trình Marshall, và cũng không cho các quốc gia Đông Âu nhận sự trợ giúp của Hoa Kỳ. Chủ thuyết Truman gồm có 5 điểm. Trong điểm thứ 3, Truman đã đưa ra đề nghị cho cả thế giới---đó là bảo vệ tự do và giữ vững nền hòa bình, và khuyến khích trao đổi thương mại giữa các quốc gia. Hoa Kỳ sẽ giúp đỡ bất cứ quốc gia nào muốm giảm thiểu đói nghèo và bệnh tật trong đời sống của dân. Hoa Kỳ sẽ chịu tất cả mọi phí tổn khi gởi các bác sĩ y khoa, các chuyên gia về canh nông, đất đai, và những kỹ sư giúp xây dựng đường xá và cầu cống. Phần còn lại là chống lại đói nghèo và bệnh tật, điểm chính yếu là dạy cho người dân ở quốc gia đó về cuộc tranh đấu cho sự sống của chính họ. Hoa Kỳ sẽ gởi tất cả các loại chuyên gia nào mà người dân muốn, ngoại trừ quân đội và võ khí. Trong điều 4 Hoa Kỳ cho rằng nghèo đói và bệnh tật tại bất cứ nơi nào trên thế giới sẽ là điều nguy hiểm cho thế giới—-một thế giới với sự nghèo đói thật thảm thương, ở đó nhiều triệu con người lúc nào cũng đói khát, không có miếng ăn và áo ấm về mùa đông.

Điểm thứ 5 là thành lập khối Nato để bảo vệ anh ninh cho Âu Châu và đưa ra chương trình Marshall để tái thiết Âu Châu và Á Châu, đặc biệt là giúp Nhật tái thiết và đưa nền dân chủ đến cho Nhật. Chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ trong giai đoạn này là ngăn chặn làn sóng cộng sản đang âm mưu cướp các quốc gia đã được--- hay đang được các đế quốc thực dân Âu Châu trao trả lại độc lập trong Phong Trào Giải Thực do Hoa Kỳ chủ trương đưa ra từ Thế Chiến I để tranh đấu quyền sống cho những kẻ khổ đau và nghèo khó đang trong vòng tay thống trị của các đế quốc thực dân. MỤC TIÊU QUAN TRỌNG NHẤT LÀ XÂY DỰNG DÂN CHỦ CHO ĐỨC, ÂU CHÂU VÀ NHẬT BẢN.

Chiến tranh với đế quốc Đức vào Thế Chiến I và II trên tinh thần của một Giao Ước của Công Lý (covenant of justice), từ đó chỉ mong nước Đức chấp nhận một chỗ đứng bình đẳng giữa con người. Không ai đòi hỏi và mong ước gì hơn là sự bình đẳng về các quyền căn bản của con người khi con người đang tìm kiếm đời sống tự do.

Tiến trình giải thực vào hậu Thế Chiến I vào 1920 được đặt trên Hiến Chương Đại Tây Dương. Tổng Thống Roosevelt đã tuyên bố rằng, Hiến Chương không chỉ áp dụng cho Âu Châu, mà khắp mọi nơi, kể cả các khu vực thuộc địa trên toàn thế giới. Roosevelt cho rằng: “ Tôi tin tưởng mạnh mẽ rằng nếu chúng ta muốn tiến tới một nền hòa bình và ổn định thì nền hòa bình đó có liên quan mật thiết đến sự phát triển các quốc gia lạc hậu. Tôi không thể tin rằng chúng ta có thể chiến đấu để chống lại sự nô lệ của độc tài fascist và Đức Quốc Xã, mà đồng thời lại không cố gắng hợp tác với tất cả những con người tự do trên toàn thế giới để chống lại các chính sách thuộc địa lỗi thời”.

Vào 1942 Roosevelt đã khẳng định: “Nếu cuộc chiến tranh này là cuộc chiến tranh giải phóng thực sự cho con người, thì cuộc chiến đó phải bảo đảm quyền bình đẳng cho con người khắp thế giới. Chiến thắng của chúng ta phải mang đến sự giải phóng cho tất cả con người. Thời đại của các đế quốc đã cáo chung”

Quan điểm của Roosevelt là ông muốn Hoa Kỳ giữ lấy vai trò dẫn đầu để đưa đến sự giải phóng cho các khu vực đang bị đế quốc thực dân chiếm đóng. Charles Taussing, cố vấn của Tổng Thống Roosevelt tại Á Châu đã tuyên bố: “Tổng Thống đã nói rằng ông rất ưu tư lo lắng cho những người da vàng tại Á Châu. Ông nói có cả tỉ người da vàng tại Á Châu đã bị những người da trắng thống trị, và họ rất oán hận và đau khổ.” Trong bài diễn văn quan trọng đọc tại Quốc Hội Hoa Kỳ vào 1941, Roosevelt đã đưa ra bốn quyền tự do căn bản cho tất cả con người trên toàn thế giới (four freedom)là :


1.- Tự do ngôn luận,

2.- tự do tôn giáo,

3.- tự do kinh tế và

4.- tự do thoát khỏi mọi đe dọa và sợ hãi.


Tất cả những hành động lấn chiếm các nước lân bang phải chấm dứt trên toàn thế giới.


Tổng Thống Roosevelt đã bước theo dấu chân của Wilson, và Tổng Thống Truman nối tiếp bước đường gian nan của Roosevelt để đối đầu với làn sóng độc tài của Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế trên toàn thế giới để bảo vệ 70 quốc gia sơ sinh vừa được trả độc lập, và bảo vệ hòa bình cho thế giới. Hoa Kỳ bước ra với thế giới---một thế giới đang sống trong đau khổ và hỗn loạn vì các đế quốc thực dân và các làn sóng độc tài dâng tràn khắp nơi. Những người Kito giáo Hoa Ký đã đem TINH THẦN CÁCH MẠNG HOA KỲ, TINH THẦN CỦA TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP 1776, TINH THẦN CỦA DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN VÀ TINH THẦN HIẾN PHÁP HOA KỲ ĐỂ PHÁT ĐỘNG CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TỪ ĐÔNG PHƯƠNG QUA TÂY PHƯƠNG SUỐT THẾ KỶ XX và XXl ĐỂ GIẢI PHÓNG NHÂN LOẠI VÀ ĐEM LẠI QUYỀN SỐNG CHO HỌ.

Đây là những thực tế của lịch sử nằm trong truyền thống bang giao quốc tế của Hoa Kỳ đã chủ trương từ thời lập quốc, nhưng trên thế giới không mấy ai biết tường tận, kể cả đa số người Mỹ cũng không mấy ai hiểu được những sự thật của lịch sử kỳ lạ đó. Trong thế giới ích kỷ và gian tham của con người, chúng ta có rất nhiều người tranh đấu cho quyền sống của họ, nhưng rất hiếm người nghĩ đến quyền sống của người khác, huống chi là hy sinh mạng sống của mình để tranh đấu cho quyền sống của bao triệu người khác là cái gì rất khó mà có được tại Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu cũng như Âu Châu.

Lịch sử cho thấy Phong Trào Thực Dân và Phong Trào Công Sản đã thể hiện trọn vẹn lòng gian tham và ích kỷ của thế giới con người từ Đông qua Tây. Đây là những con người đã đi tước đoạt thô bạo và độc ác quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của con người khắp nơi.


Và Hoa Kỳ khác quá xa lạ với tất cả các quốc gia khác ở Đông Phương và cả Tây Phương--- và là quốc gia duy nhất trong lịch sử đã giương ngọn cờ Mỹ khắp mặt đất để tranh đấu cho quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc cho tất cả nhân loại. Hoa Kỳ cho rằng đó là những quyền mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho tất cả con người mà không có ai được quyền lấy mất đi của họ. Vì thế Hoa Kỳ phải giương ngọn cờ của Mỹ để đòi lại quyền sống cho con người đang bị các đế quốc và làn sóng độc tài cướp đoạt.


* Phải chăng chính vì đức tin mãnh liệt vào Đấng Tối Cao (the Most High) mà hoa Kỳ được Trời chọn để hướng dẫn tất cả nhân loại xây dựng hòa bình và ấm no hạnh phúc cho thế giới con người? Nếu không có đức tin tôn giáo mãnh liệt, quốc gia Hoa Kỳ tìm đâu ra đạo đức và công lý để xây dựng quốc gia?

* Và nếu hoa kỳ không thực hành đạo đức và công lý trên toàn thế giới, Hoa kỳ còn xứng đáng đứng trong vị trí và vai trò lãnh đạo thế giới nữa hay không?

* Tại sao Hoa Kỳ lãnh đạo cả thế giới mà vẫn không phải một đế quốc?

* Tại sao chính Staline lại tuyến bố: “Hoa Kỳ vẫn là quốc gia đáng tin cậy nhất trên thế giới”?

* Hoa Kỳ lãnh đạo thế giới để khai thác trục lợi thế giới con người hay để phục vụ thế giới con người?

* Quốc gia Hoa Kỳ là sản phẩm lý tưởng tuyệt vời của Thánh Kinh từ Trời Cao, hay sản phẩm suy tư từ trí tuệ cạn cợt của những con người thế tục phàm phu (secular human mind) trong một thế giới có quá nhiều quốc gia và quá nhiều người ích kỷ và gian tham mà thực tế của lịch sử đã cho thấy?


ĐÓ LÀ TẤT CẢ NHỮNG CÂU HỎI MÀ QUỐC GIA NÀO MUỐN ĐỨNG VÀO VỊ TRÍ VÀ VAI TRÒ LÃNH ĐẠO THẾ GIỚI THAY THẾ HOA KỲ THÌ PHẢI TỰ TÌM LẤY NHỮNG CÂU TRẢ LỜI.

Sau Thế Chiến I và Thế Chiến II cũng như sau khi Liên Hiệp Quốc đã thành lập thì Chiến Tranh Lạnh lại xảy ra (1947-1989) để Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản liên tiếp tấn công vào khắp thế giới như một tội phạm chống lại hòa bình của thế giới và chống lại giá trị tinh thần của nhân loại. Những tội phạm chiến tranh chống lại nhân loại, bao gồm tội sát nhân tập thể, hủy diệt, nô lệ hóa và trục xuất con người ra khỏi nơi sinh chốn ở của họ. Và tất cả những hành động bất nhân đối với các thường dân, tạo ra những trận đói kinh hoàng và bách hại về chính trị, tôn giáo và chủng tộc.

Số nạn nhân bị giết hại bởi bàn tay man rợ của cộng sản là 142 triệu người vô tội.


Francis de Menthon đã tố giác: Tổ chức lớn lao về tội phạm chống lại giá trị tinh thần, chối bỏ tất cả mọi giá trị tinh thần và các giá trị luân lý đạo đức mà các quốc gia dân tộc đã cố gắng liên tục xây dựng cả ngàn năm để mong cải thiện điều kiện sống cho con người. Đây là thứ chủ nghĩa quái vật (monstrous doctrine, Black Book of Communism).

Sau nhiệm kỳ của Tổng Thống Harry Truman là Tổng Thống Eisenhower, ông đắc cử năm 1952, và ông vẫn tiếp tục bước đi theo truyền thống đạo đức và công lý trong đường lối đối ngoại của Hoa Kỳ từ thời lập quốc. Tuyên Ngôn Độc Lập đã xác quyết rằng: Chính quyền được thành lập để bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của dân. Và bây giờ Hoa Kỳ muốn bảo vệ những quyền đó cho tất cả con người từ Đông qua Tây.

Trong khi đó làn sóng độc tài cộng sản trên tòan thế giới lại tước đoạt quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của con người khắp nơi trên thế giới. Dưới mắt Hoa Kỳ chỉ có vài người Nga có quyền quyết định quốc gia phải làm gì, toàn dân chẳng có quyền gì cả .Tại Hoa Kỳ, mặc dù một số người tại Washington có quyền quyết định quốc gia phải làm gì. Nhưng người dân Hoa Kỳ vẫn có tiếng nói tối hậu, bởi vì họ có quyền cho Washington về nhà bất cứ lúc nào mà người dân không thích. Dân phải có trách nhiệm với quốc gia, không thể chỉ để cho Tổng Thống, Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện lo hết mọi việc thì quốc gia mới cường thịnh được.

Hoa Kỳ cho rằng, quốc gia này đã lớn mạnh, bởi vì nhiều triệu con người cường tráng và can đảm đã đổ mồ hôi xây dựng nên quốc gia này, và có cả triệu người đã hy sinh cho quốc gia và bảo vệ quốc gia. Và có ngàn con người cực kỳ minh triết và tài ba, đức độ đã xử dụng tất cả năng lực của tâm hồn và trí tuệ và sự chân thật của họ để hướng dẫn quốc gia.

Còn lại một lý do nho nhỏ để ngờ vực---đó là Hoa Kỳ lớn mạnh và sẽ tiếp tục lớn mạnh khi nào những tâm hồn với ý chí mạnh mẽ, can đảm và khôn ngoan tiếp tục phấn đấu và hy sinh cho quốc gia này. Những con người như thế không chỉ muốn xây dựng cho quốc gia của họ mà mục đích lý tưởng của họ là giúp cho cả thế giới này xây nên một thế giới giống như nước Mỹ.

• SỐNG TRÊN NHỮNG BI KỊCH CHỒNG CHẤT DO VĂN MINH LẠC ĐẠO TRUNG HOA VÀ VĂN MINH PHẢN ĐẠO CỦA ÂU CHÂU ĐƯA ĐẾN. CON NGƯỜI VIỆT NAM PHẢI LÀM GÌ ĐỂ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC MÀ TỰ CỨU LẤY CHÍNH MÌNH ?

Khi đắc cử, Tổng Tống Eisenhower đã viện trợ và tận tình giúp Miền Nam Việt Nam và Thủ Tướng Ngô Đình Diệm xây nên nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam trong suốt 9 năm (1954-1963). Đây là nền dân chủ thứ hai sau Nhật Bản tại Á Châu,và là một nền dân chủ vững mạnh nhất trong 70 quốc gia sơ sinh vừa được trao trả độc lập sau Đệ II Thế Chiến. Và Sàigòn lúc đó được cả Á Châu và thế giới coi là Hòn Ngọc Viễn Đông. Đất nước Miền Nam sau 80 năm đô hộ của thực dân Pháp và sau bao năm chiến tranh đã hoàn toàn bị phá sản gần như toàn diện và đang bị chìm đắm trong thảm nạn chia rẽ; thế mà chỉ trong 9 năm toàn dân Miền Nam và Thủ Tướng Diệm đã xây dựng được một đất nước thanh bình an lạc và ấm no hạnh phúc nhất trong 70 quốc gia vừa được trao trả độc lập. Nhưng Hồ Chi Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam, sau khi đất nước bị chia đôi sau Hội Nghị Geneve, đại diện cho Quốc Tế Cộng Sản phát động chiến tranh để cưỡng chiếm Miền Nam suốt 20 năm. Sau khi chiếm được Miền Nam những người cộng sản đã biến Thiên Đàng Miền Nam thành địa ngục trần gian như mọi người đã thấy từ 1975 đến nay. Đây là một tội ác vĩ đại nhất của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam khi gây ra chiến tranh cưỡng chiếm Miền Nam (1954-1975).


* Cái gọi là “chiến tranh giải phóng Miền Nam” còn có ý nghĩa gì không khi những người cộng sản biến một thiên đường của đất nước thành địa ngục?

* Đây có phải là tội ác không?

* Tội ác là tội ác với tất cả sự thật quá hiển nhiên, và với những nhân chứng và tang chứng rành rành ra đó, làm sao chối cãi được, Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam lấy gì để biện minh chạy tội cho tội ác vĩ đại này?


Trong Tiểu Luận này mọi người đã nhìn thấy tất cả sự thật, và những sự kiện chính yếu của lịch sử thế giới vào thế kỷ 20. Trong tiến trình giải thực Việt Nam đã có được ba lần độc lập vào 1945, 1949 và 1954. Vì thế cái gọi là “tranh đấu giành độc lập cho đất nước Việt Nam”của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam là hoàn lừa bịp và xảo trá để đánh lừa dân tộc Việt Nam và thế giới suốt gần 70 năm qua.Thực tế của lịch sử cho thấy Hoa Kỳ là một quốc gia ân nhân vĩ đại của nhân loại đã đứng lên tranh đấu liên tục gần một thế kỷ cho nền độc lập của 70 quốc đang bị thực dân đô hộ. Trong khi đó Phong Trào Cộng Sản phát động chiến tranh “giải phóng dân tộc” khắp nơi trên thế giới để chiếm đoạt các quốc gia sơ sinh vừa được trả độc lập, để nô lệ và xích hóa họ như trường hợp của Việt Nam. Trong khi Nhật đã trao trả độc lập cho Việt Nam vào 1945 đến 1949 và 1954 thì Pháp cũng đã trao trả thêm hai lần độc lập cho Việt Nam . Vì thế cái mà đảng Cộng Sản Việt Nam thường lớn lối khoa trương với dân tộc Việt Nam và cả thế giới là họ đã “chiến thắng ba đế quốc sừng sỏ là đế quốc Nhật, đế quốc Pháp và đế quốc Mỹ” để giành độc lập cho đất nước Việt Nam cũng là sản phẩm tưởng tượng và hoàn toàn bịa đặt. Đánh thắng Nhật là Hoa Kỳ chứ không phải cộng sản Việt Nam. Ngoài ra cái gọi là “đế quốc Mỹ” không hề có thật trong lịch sử, vì Mỹ chưa bao giờ là đế quốc cả. Còn Pháp thì đã trao trả độc lập cho Việt Nam hai lần hoàn toàn không phải công lao của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam.

Những người cộng sản luôn luôn vênh váo với “sự nghiệp giải phóng Miền Nam”, nhưng sau khi “giải phóng”rồi mà bao nhiều triệu người đã lũ lượt bỏ nước ra đi, thì sự nghiêp “giải phóng”đó đáng xưng tụng hay đáng nguyền rủa?

Vì thế, CHÍNH HỒ CHÍ MINH VÀ ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM ĐÃ PHÁ TAN 3 LẦN ĐỘC LẬP CỦA VIỆT NAM.


Còn cái gọi là “ huyền thoại tranh đấu giành độc lập của đảng ta ” nếu đảng cộng sản Việt Nam có những chiến thắng thì không phải thắng “ba đế quốc sừng sỏ” như họ vung vít khoa trương mà chiến thắng trên xác chết của bao triệu con người việt nam hoàn toàn vô tội. Bởi vì trên các chiến trường xác của các tên đế quốc sừng sỏ chẳng thấy bao nhiêu mà toàn thấy xác của người Việt Nam…cả triệu triệu người gục chết thảm thương dưới rừng bom đạn của cộng sản việt nam để Hồ Chí Minh và cộng sản Việt Nam lớn lối…chiến thắng…đại chiến thắng…Thành công…đại thành công…của “đảng ta”…Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam vẫn có quyền hãnh diện về chiến thắng “Điện Biên” của họ, nhưng chiến thắng đó là chiến thắng của Phong Trào Cộng Sản phát động chiến tranh khắp nơi để phá tan nền độc lập của các quốc gia vừa được trao trả độc lập, trong đó có Việt Nam--- đây hoàn toàn không phải tranh đấu cho nền độc lập của Việt Nam---bởi vì không có “Chiến Thắng Điện Biên Phủ” thì Việt Nam đã có hai lần độc lập vào 1945 và 1949 rồi. Và chính Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã phá tan hai lần độc lập đó. Và khi phát động chiến tranh tiến chiếm Miền nam thì cộng sản phá tan nền độc lập thứ ba của Việt Nam. Đây là những sự thật lịch sử không thể chối cãi được---vì đó là sự thật.

Nói tóm lại những điệp ngữ như: “chiến thắng Điện Biên”,”chiến thắng ba đế quốc sừng sỏ”, ”huyền thoại tranh đấu giành độc lập của đảng ta” hay “sự nghiệp giải phóng Miền nam” “bác Hồ vĩ đại” cứ lập đi lập mấy chục năm qua như cái đĩa nhạc cũ bắt nghe đi nghe lại đến nhàm chán không chịu nổi. Bản chất của cách mạng cộng sản là bạo lực, dối trá, lừa đảo, hận thù và phá hoại nên guồng máy tuyên truyền phải cố gắng liên tục để che lấp bản chất cũng như những việc làm mờ ám và xấu xa tồi tệ của họ; vì thế sự thật của lịch sử đã được vo tròn bóp méo tối đa để tiếp tục lừa đảo dư luận. Hồ Chí Minh và đảng cộng sản đã phá tan ba lần độc lập của Việt Nam hoàn toàn dựa vào dối trá và lừa đảo. Nếu người dân Việt Nam có sự hiểu biết và những kiến thức lịch sử của thế giới vào thế kỷ 20 thì làm sao Hồ Chí Minh và đảng cộng sản lừa dối được, cũng như có thể bảo vệ được nền độc lập ngay từ 1945.

Trước những kẻ thù cực kỳ nguy hiểm như thực dân và cộng sản,và trước những thử thách kinh hoàng, thiếu sự hiểu biết, kiến thức và sự sáng suốt thì rất dễ sa vào thảm họa và tai vạ. Vì thế quốc gia luôn luôn trông cậy vào tầng lớp trí thức tinh hoa có lương tâm, đạo đức, kiến thức, sáng suốt và trách nhiệm để soi sáng, hướng dẫn và đưa đường chỉ lối dân và cho quốc gia. Tiếc thay, một số mang danh trí thức nhưng thiếu kiến thức, lương tâm, đạo đức và sáng suốt nên đã bị cộng sản dụ dỗ ngon ngọt hay đem mồi danh lợi ra nhử để lôi kéo họ đứng về phía cộng sản để phá tan ba lần độc lập của đất nước và giựt sập nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam để biến đất nước Miền Nam đang sống trong thanh bình và hạnh phúc thành địa ngục từ 40 năm qua. Cái chết của một quốc gia thật quá kinh hoàng---một cái chết đầu tiên trong lịch sử làm cho cả thế giới bang hoàng. Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam đã lạnh lùng giết chết quốc gia đó để xây dựng hào quang chiến thắng cho Phong Trào Quốc Tế Cộng Sản và cho đảng của họ. Và bây giờ thì cộng sản Việt Nam để cho đất nước Việt Nam lại rơi vào vòng tay của Tân Thực Dân Đại Hán. Đây là một thứ kẻ thù truyền kiếp đã từng đô hộ dân tộc này cả ngàn năm trước và đă đem áp đặt một nền văn minh lạc đạo và một nền văn hóa hoàn toàn phàm tục và dung tục lên sinh mệnh văn minh văn hóa Việt Nam từ bao bao năm qua để cho dân tộc Việt mất ĐẠO LÝ CỦA TRỜI và MẤT LUÔN TÂM ĐẠO. Đó là những giá trị mà chính Lâm Ngữ Đường đã lên tiếng cảnh cáo Trung Hoa về “những khiếm khuyết, sai lầm và mất mát không sao bù đắp được”của văn hóa Trung Hoa. Nền văn minh này không chỉ sản sinh ra những “Thiên Triều” luôn luôn ôm ấp ý chí cường lực thô bạo và giantham vô độ để đi tranh quyền cướp nước của người, mà nền văn minh này còn làm cho xã hội Việt Nam luôn luôn rơi vào thảm nạn chia rẽ, xung đột, ly tán và hận thù giữa người và người. LÀM VĂN HÓA LẦM LÀ GIẾT MUÔN NGÀN THẾ HỆ là thế. Bản chất của nền văn minh này là phàm tục,và dung tục vô độ nên xã hội Việt Nam chỉ biết xưng tụng và tôn vinh quyền cao chức trọng, xưng tụng và tôn vinh học vị học thức, tôn vinh giầu sang phú quý vật chất, tôn vinh áo mão cân đai, tôn vinh danh lợi và ngày nay tại Việt Nam không có ai mà không tôn vinh cơm-áo-gạo-tiền.Như thế có nghĩa là gì ?Như thế là “khuyến ác hay khuyến thiện”? Kết quả là nhân tâm và xã hội không bao giờ ổn định được,vì xã hội luôn luôn là một đấu trường hung hãn để cho con người tranh danh đoạt lợi, tranh quyền cướp nước hay tranh bá đồ vương, và vì làm nhu thế nên xã hội hoàn toàn đánh mất đời sống tinh thần, đời sống tâm linh, đạo đức và lý tưởng nên xã hội, đúng như Henry James đã nhận xét về xã hội Trung Hoa: “giữa con người không có một chút tinh thần nào để gắn bó với nhau”.

Bên cạnh nền văn minh lạc đạo của Trung Hoa,dân tộc Việt Nam còn là nạn nhân bi thảm của nền văn minh phản đạo (apostasy) của Âu Châu có từ thời Phục Hưng (renaissance)và thời Ánh Sáng (enlightenment age). Bản chất của nền văn minh phản đạo này không chỉ chống Giáo Hội La Mã, chống tu sĩ mà chống luôn Kito giáo và chống tất cả các tôn giáo để cố súy cho một thứ văn hóa cũng phàm tục và dung tục, xiểng dương tinh thần duy lý, cá nhân chủ nghĩa, thực nghiệm và vô thần để sản sinh ra 7 đế quốc thực dân Âu Châu để đô hộ gần 70 quốc gia và kiểm soát gần 87% đất đai trên toàn thế giới,và khai sinh luôn phong trào cộng sản để cướp đoạt 27 quốc gia sơ sinh vừa được thực dân Âu Châu trao trả độc lập để xích hóa và nô lệ các quốc gia này, trong đó có Việt Nam.

Ngoài những đau khổ chồng chất trên mọi phương diện về vật chất cũng như tinh thần do thực dân và cộng sản đem lại hơn một thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam còn là nạn nhân của những chính sách “chia để trị” và “ngu dân” vô cùng thâm độc của thực dân và cộng sản. Chủ trương của họ là “làm cho yếu hèn, làm cho điêu đứng, làm cho đói khát và điêu linh” cũng như làm cho “ngu dốt”để dễ bề thống trị. Đứng trước hai làn sóng xâm lăng đầy quyền năng thô bạo của văn minh lạc đạo và văn minh phản đạo của cả Đông Phương và Tây Phương đều chủ trương chính sách “chia để trị” và “ngu dân” thâm độc như thế, làm sao dân tộc khổ đau này đoàn kết với nhau được? Vì thế CHIA RẼ LÀ ĐẠI QUỐC NẠN NGÀN NĂM CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM. Trên quốc nạn đó chia rẽ đã vào tới bản chất con người, vì con người được nhào nặn, uốn nắn và hun đúc trong chiếc nôi văn hóa không có những giá trị tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng nên không có một chút tinh thần nào để gắn bó con người lại với nhau. Từ chỗ đó quốc nạn chia rẽ của dân tộc Việt Nam đã trở thành thâm căn cố đế như một định mệnh.

Từ hơn môt thế kỷ qua, dân tộc Việt Nam bị tác động, ảnh hưởng và khuynh đảo triền miên trên ba dòng thác lịch sử thời đại---đó là Phong Trào Thực Dân đã chiếm đóng và đô hộ gần 70 quốc gia, kể cả Việt Nam. Phong Trào Cộng Sản đã chiếm đóng và xích hóa nô lệ 27 quốc gia, trong đó có Việt Nam và Phong Trào Giải Thực do Hoa Kỳ chủ xướng và điều động để giải phóng và đem lại độc lập cho 70 quốc gia và Việt Nam cũng đã được độc lập. Khi Hoa Kỳ tham dự vào các cuộc chiến tranh, Hoa Kỳ đã tuyên bố: “chiến tranh là chiến tranh chống độc tài. Và chiến tranh là chiến tranh đòi quyền sống cho con người khắp nơi trên thế giới”. Đây là ba bài học lịch sử mà những con người Việt Nam Thời Đại phải học cho bằng được và học bằng mọi giá, nếu thực sự muốn ĐOÀN KẾT DÂN TỘC ĐỂ TỰ CỨU LẤY CHÍNH MÌNH THOÁT KHỎI NANH VUỐT QUỈ QUÁI VÀ GIAN THAM CỦA CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ TÂN THỰC DÂN ĐẠI HÁN ĐANG THÔN TÍNH QUÊ HƯƠNG THÂN YÊU. Thực ra tất cả đều tùy thuộc vào Ý chí và sự sáng suốt của con người. Đúng như Nguyễn Thái Học đã nói: “Đường đi khó, không khó vì ngăn sông cách núi. Chỉ khó vì lòng người ngại núi e sông”…mà thôi.

Tất cả những nỗi trầm luân thống khổ chồng chất của dân tộc Việt trong suốt chiều dài lịch sử đăng đẳng đều xuất phát từ hai nền văn minh lạc đạo và văn minh phản đạo của cả Đông Phương và Tây Phương đưa đến. Vì cả hai nền văn minh này đều mất ĐẠO LÝ CỦA TRỜI và TÂM ĐẠO nên đời sống con người không còn tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng nữa,vì thế chiến tranh liên tục khắp nơi. Tuy nhiên, nhân loại may mắn vẫn còn rơi rớt lại được một nền VĂN MINH TINH THẦN CỦA CHÍNH ĐẠO LÀ VĂN MINH DÂN CHỦ HOA KỲ mới có đủ quyền năng siêu việt của TINH THẦN ĐẠO ĐỨC, CÔNG LÝ và LÝ TƯỞNG cũng như sức mạnh chưa từng thấy về quân sự, chính trị và ngoại giao để đứng mũi chịu sào thực dân và chống lại các làn sóng độc tài đang gây ra chiến tranh khắp nơi để đòi lại quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của con người trên khắp mặt đất này---bởi vì đây là những quyền mà Đấng Tạo Hóa đã ban cho con người nên không ai có thể tước đoạt hay làm mất đi của con người.

Đứng trước những cơn đau chất ngất hàng thế kỷ, và đứng trước QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM CỦA DÂN TỘC do hai nền văn minh lạc đạo và phản đạo đưa đến, khuôn mặt ngàn đời của Việt Tộc đầy máu me, mồ hôi và nước mắt. Phần đông chúng ta cũng chẳng biết tại sao lại đến nông nỗi này? Mấy thể trước đây, đứng trước QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN ĐỜI CỦA DÂN TỘC, Nguyễn Du đã ôm ấp giấc mơ đoàn kết dân tộc:

Bấy nay kẻ Việt, người Tần cách xa

Sao cho trăm dặm một nhà

Cho người thấy mặt là ta cam lòng

Có mấy ai hiểu được Đoạn Trường Tân Thanh của NGuyễn Du là TIẾNG KÊU THAN CỦA MỘT DÂN TỘC đã mượn hình ảnh truân chuyên của nàng Kiều mà nói về sinh mệnh của một dân tộc lắm đau thương ?

Khi nhìn người Việt chạy theo Ngoại bang, có lần một sĩ phu đất Việt đã than thở rằng: “Tại cái nghĩa dân với nước không ai hiểu rõ. Nhà nào làm vua, cho cả nước là của riêng nhà ấy, hễ ai cướp đi thì tìm cách lấy lại, chứ không nghĩ đến cái lợi chung trước cái lợi riêng, cái quyền nước trước cái quyền nhà, thế cho nên mình cứ dại mãi mà không biết là dại.( Phan Bội Châu).

Vua đã như thế thì dân biết trông cậy vài ai bây giờ? Khi một nền văn minh thường tự hào có 5000 năm như Trung Hoa mà vẫn không gây được ý thức quốc gia thì Việt Nam làm sao có được ý thức quốc gia vững mạnh được? Vì lẽ đó mà tinh thần phe nhóm làn tràn khắp nơi làm cho tinh thần quốc gia lúc nào cũng như ngọn đèn cạn dầu, chờ lịm tắt trong đêm. Nói tóm lại những hậu quả do SAI LẦM TRONG VĂN HÓA BỊ TRUNG HOA ÁP ĐẶT LÊN ĐẤT NƯỚC VIỆT NAM ĐÚNG LÀ MỘT QUỐC NẠN NGÀN NĂM.

Đúng như Hegel đã nhận thấy, lịch sử đã trải qua những thời kỳ dai đăng đẳng với bao lầm lạc, sa đọa trong vòng tội lỗi. Mục tiêu cuối cùng là nhận ra sự thật ấy và vượt qua chặng đường đó. Nhưng qua hàng loạt những biến cố dồn dập ấy, hãy để tâm tư thật lắng đọng để nhìn thật rõ những sự thật trong đó, con người phải tìm lại con người…con người sẽ học hỏi và hiểu được những giá trị chân chính, và họ sẽ đòi lại những quyền không thể chối bỏ được, bởi vì họ đã bị tước đoạt và bị chà đạp đến đất đen. Hegel thật sáng suốt khi ông nói, con người đã trải qua một thời kỳ dài trong trạng thái ấu trĩ và non kém,và họ đã trở thành nạn nhân của thiên nhiên và nạn nhân của xã hội. Ngày nay đang vươn mình trở thành chủ thể tự chủ và phát triển đời sống của chính mình. Một quốc gia sẽ lấy trật tự của đạo đức để xây dựng trật tự quốc gia…con người có thể tìm thấy lịch sử là một cuộc chiến đấu không ngừng cho tự do và cho quyền sống…trật tự hiện hành phải được tái tổ chức ,chủ nghĩa chuyên chế,và những gì còn lại của chế độ phong kiến và độc tài phải dẹp bỏ đi.

Những gì Hegel nói trong hoàn cảnh lịch sử của nước Đức và Âu Châu, nhưng lại rất phù hợp với hoàn cảnh lịch sử Việ Nam trước đây và bây giờ: tất cả chúng ta là nạn nhân của văn minh lạc đạo và phản đạo, nạn nhân của tham vọng của đế quốc, và nạn nhân của xã hội lầm lạc sa đọa trong vòng tội lỗi từ quá lâu rồi. VÀ CUỐI CÙNG CHÚNG TA ĐÃ NHẬN RA NHỮNG SỰ THẬT ẤY, VÀ BÂY GIỜ THÌ CHÚNG TA PHẢI VƯỢT QUA ĐỂ CÙNG NHAU ĐOÀN KẾT LẠI MÀ TỰ CỨU LẤY CHÍNH MÌNH VÀ CỨU DÂN TỘC.

Chúng ta làm cách mạng dân chủ đáy tầng là cách mạng để chống độc tài đảng trị, và chúng ta làm cách mạng dân chủ đáy tầng là cách mạng đòi quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của mỗi chúng ta và tất cả con người tại Việt Nam, Hoa Lục và khắp Á Châu.

Ngoài ra chúng ta làm cách mạng dân chủ đáy tầng là cách mạng kế thừa cách mạng Hoa Kỳ vào 1776 đã thành công khắp nơi nhưng đã thất bại tại Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu, vì Hoa Kỳ và Tây Phương chỉ hiểu văn minh Trung Hoa trên sách vở, nhưng không hiểu được nền văn minh lạc đạo trên thực tế của lịch sử mấy ngàn năm qua, vì thế mà hạt mầm dân chủ không thể nào vươn lên được tại Á Châu. Khi những “thiếu sót, khiếm khuyết và sai lầm” trong văn hóa được khám phá thì dẹp bỏ những sai lầm, bổ khuyết cho những khiếm khuyết, và bù đắp vào những thiếu sót thì hạt giống dân chủ đáy tầng sẽ nẩy mầm và đơm hoa kết trái vô cùng tốt đẹp.

Cách mạng dân chủ đáy tầng chắc chắn sẽ thành công, vì cuộc cách mạng này khởi đầu bằng cuộc CÁCH MẠNG TÂM THỨC VÀ CÁCH MẠNG VĂN HÓA VĨ ĐẠI để con người tự giải phóng mình ra khỏi gông cùm văn minh lạc đạo của Trung Hoa đã đánh mất ĐẠO LÝ CỦA TRỜI và TÂM ĐẠO từ bao ngàn năm qua---đồng thời VƯỢT QUA VÀ ĐOẠN TUYỆT VỚI NỀN VĂN HÓA PHÀM TỤC VÀ DUNG TỤC CỦA TRUNG HOA, một thứ văn hóa chỉ tôn thờ danh lợi, quyền cao chức trọng, mũ áo xênh xang, học vị học thức, giầu sang phú quý của vải vật chất để khuyến khích con người biến đời sống xã hội thành những đấu trường tranh danh đoạt lợi, tranh quyền cướp nước và tranh bá đồ vương triền miên trong suốt dòng lịch sử mấy ngàn năm.

Cuộc CÁCH MẠNG TÂM THỨC VÀ CÁCH MẠNG VĂN HÓA LÀ CÁCH MẠNG THAY ĐỔI VÀ CHUYỂN HÓA TÂM THỨC VÀ THAY ĐỔI CHUYỂN HÓA VĂN MINH VĂN HÓA BÁI VẬT VÀ VÔ THẦN THÀNH VĂN MINH TINH THẦN (spiritual civilization) để PHỤC SINH ĐỜI SỐNG TINH THẦN,TÂM LINH, ĐẠO ĐỨC VÀ LÝ TƯỞNG. .Đây là mục tiêu chung của tất cả các tôn giáo.Khi tôn giáo chưa hay không giúp cho con người phát huy được đời sống tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng thì tôn giáo chưa đóng đúng chức năng cao quý của tôn giáo, và chưa đem đạo vào đời được.

Ngày nay CUỘC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ ĐÁY TẦNG TẠI VIỆT NAM, TRUNG HOA VÀ CÁC NƯỚC Á CHÂU được soi sáng và hướng dẫn bởi ÁNH SÁNG VĂN MINH DÂN CHỦ HOA KỲ đã thành công khắp thế giới từ gần một thế kỷ nay.Chính Hoa Kỳ cũng khuyến khích tất cả các quốc gia yêu chuộng tự do nên mô phỏng nơi Tuyên Ngôn Độc Lập và bản Hiến Pháp Hoa Kỳ mà xây dựng dân chủ.

Trong lúc đó dân tộc Việt Nam đang phải gánh trên vai những gánh nặng lịch sử tích tụ lại từ bao ngàn năm nên đã xây được nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam là nền dân chủ vững mạnh thứ hai tại Á Châu, nhưng đã không duy trì và bảo vệ được vì QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM đã đưa đến cái chết hãi hùng và bi thảm cho Tổng Thống Diệm và gia đình ông. Không có ông không có ai đủ sức mạnh, khôn ngoan và sáng suốt để bảo vệ Miền Nam và nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam nên quốc gia Miền Nam phải chết dưới bàn tay của cộng sản. Tổng Thống Diệm là hình ảnh khả kính của người sĩ phu đất Việt và là một nhà ái quốc minh triết và đạo hạnh nên ông chủ trương xây dựng và phát huy đời sống tinh thần, đạo đức và trí thức cho dân Việt. Nhưng giấc mơ chưa thành thì bị chính những người Việt Nam, vì muốn tranh danh đoạt lợi, tranh quyền cướp nước và tranh bá đồ vương để vinh thân phì gia cho riêng họ nên họ sát hại ông thật tàn nhẫn để đưa đến cái chết oan khiên và tức tưởi cho quốc gia Miền Nam.

Không có quốc nạn chia rẽ dân tộc, Việt Nam đã bảo vệ và duy trì được nền độc lập từ gần 70 năm qua, và Tổng Thống Diệm và gia đình ông không phải chết thảm thiết như thế. Và tối thiểu chúng ta vẫn còn có Hòn Ngọc Viễn Đông tại Miền Nam so với địa ngục Miền Bắc dưới chế đô cộng sản. Trên những bài học quá đau thương này dân tộc Việt Nam phải có khả năng chấm dứt QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM khủng khiếp đó thì triển vọng đoàn kết dân tộc mới có cơ thành tựu.

Muốn đoàn kết dân tộc thì đừng tôn vinh xưng tụng những gì đã làm cho người xa cách người. Thay vào đó chúng ta sẽ tôn vinh xưng tụng tất cả những gì làm cho người gần với con người hơn, những gì làm cho chúng ta tin nhau hơn, những gì để người thông cảm người hơn, những gì để con người hiểu nhau hơn, những gì để con người yêu thương nhau hơn để cùng sống bên nhau, sống vì nhau và sống cho nhau,và làm những gì để con người gắn bó keo sơn với nhau. Như thế mới đoàn kết dân tộc được. Quyền cao chức trọng, mũ áo xênh xang, giàu sang phú quý của cải vật chất, danh lợi, học vị học thứ hay tiền tài danh vọng,địa vị cao sang của con người có làm cho con người gần nhau không ? Có làm con người yêu thương con người không ? Có làm cho con người tin nhau hơn không ? Cảm thông nhau, hiểu nhau hơn không ? Và xã hội con người có gắn bó với nhau được không? Nếu câu trả lời là không thì những ai còn tiếp tục tôn vinh xưng tụng những giá trị đó, đúng là những con người còn non kém và ấu trĩ---bởi vì đây không phải những chân giá trị của nhân bản, mà chỉ là những chiếc áo khoác ngoài mà thôi. Đó là lý do đã làm cho nền văn minh việt Nam và Trung Hoa thành VĂN MINH LẠC ĐẠO, để biến thành VĂN MINH PHÀM TỤC (secular civilization) từ bao ngàn năm qua. Chính vì nền văn minh này mà dân tộc Việt Nam phải gánh chịu QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM. Thay vì tôn vinh những giá trị hời hợt tạm bợ và phù du như thế, chúng ta phải tôn vinh và hoằng dương ĐẠO LÝ CỦA TRỜI LÀ CHA CHUNG CỦA TẤT CẢ NHÂN LOẠI, TÔN VINH VÀ PHÁT HUY TÂM ĐẠO ĐỂ XÂY DỰNG LẠI MỐI TƯƠNG QUAN MẬT THIẾT GIỮA TRỜI VÀ NGƯỜI CŨNG NHƯ GIỮA NGƯỜI VÀ NGƯỜI ĐỂ LÀM NỀN MÓNG CHO VĂN MINH TINH THẦN VIỆT.

Cách Mạng Hoa Kỳ và nền Văn Minh Dân Chủ Toàn Cầu đang để lại cho nhân loại biết bao bài học quý giá---bởi vì Hoa Kỳ không chỉ đoàn kết được quốc gia Hoa Kỳ thật keo sơn gắn bó gần 300 triệu người với nhau, mà Hoa Kỳ còn đoàn kết được cả tỉ người trong thế giới tự do từ một thế kỷ nay (1914-2014). Chất Keo vô cùng thiêng liêng và màu nhiệm để xã hội con người gắn bó vơi nhau chính là bốn giá trị lớn lao trong VĂN MINH DÂN CHỦ HOA KỲ---LÀ TINH THẦN, TÂM LINH, ĐẠO ĐỨC và LÝ TƯỞNG. Bốn giá trị này các Founding Fathers của Hoa Kỳ đã viết lên Tuyên Ngôn Độc Lập 1776 và viết vào Hiến Pháp 1787. Sau 1913 Tổng Thống Wilson và Roosevelt đã đem tinh thần Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp Hoa Kỳ để xây dựng thế giới tự do và hòa bình thế giới từ môt thế kỷ qua, và cả thế giới tự do đã đoàn kết với nhau thật chặt chẽ trên những nền móng luật pháp quốc tế đó.

Tinh thần Tuyên Ngôn Độc Lập của Hoa Kỳ có thể tóm gọn trong câu: Tạo Hóa đã ban cho con người những quyền không thể chối bỏ hay lấy mất đi được, trong đó có QUYỀN SỐNG, QUYỀN TỰ DO, QUYỀN TƯ HỮU VÀ QUYỀN TÌM KIẾM HẠNH PHÚC. Vì muốn tranh đấu cho những quyền căn bản đó của con ngườiHoa Kỳ đã dấn thân vào Thế Chiến I và Thế Chiến II,Chương Trình Giải Thực và Chiến Tranh Lạnh để ngăn chặn làn sóng cộng sản đang phát động chiến tranh giải phóng để chiếm các quốc gia sơ sinh vừa được trao trả trả độc lập sau đệ II Thế Chiến. Vì thế đối với Hoa Kỳ, chiến tranh là chiến tranh chống các làn sóng độc tài, và chiến tranh là chiến tranh đòi quyền sống cho con người khắp mọi nơi.

Bên cạnh Tuyên Ngôn Độc Lập, Hoa Kỳ còn viết ra một Giao Ước giống như Giao Ước giữa Thiên Chúa và Dân Do Thái vào thời Cựu ước. Giao Ước này là nền móng vững chắc cho một Khế Ước Xã Hội (social contract). Khế Ước Xã Hội này cũng có nội dung đạo đức và công Lý như luật Giao Ước với Thiên Chúa với Do Thái để làm nền tảng cho Hiến Pháp Quốc Gia Hoa Kỳ. Trong lời mở đầu của Hiến Pháp (preamble) đã nêu 6 mục tiêu của Hiến Pháp mà chính quyền và toàn dân phải hoàn tất. Đó là:

Chúng tôi, người dân Hoa Kỳ

---Xây dựng sự đoàn kết và gắn bó giữa các Tiểu Bang thành một Liên Bang (perfect uion)

---Xây dựng công lý

---Bảo đảm sự thanh bình an lạc cho quốc gia

---Xây dựng sức mạnh quốc phòng để bảo vệ quốc gia

---Đề cao an sinh phúc lợi cho tất cả người dân (general welfare)

---Và bảo vệ tự do

Cho chính chúng ta và cho hậu thế (ourselves and postery)

Đây là Hiến Pháp của Hoa Kỳ.

Hiến Pháp là biểu tượng của đạo đức, công lý và lý tưởng của quốc gia và là một GIAO ƯỚC TUYỆT VỜI ĐỂ LÀM NÊN MỘT KHẾ ƯỚC XÃ HỘI MUÔN ĐỜI giữa người dân và chính quyền, giữa người dân với người dân. Giao Ước này là nền móng của luật pháp quốc gia, trong đó xác dịnh rõ ràng chính quyền và người dân được quyền làm gì và không được làm gì. Trên căn bản đó chính quyền được thành lập để lo cho toàn bộ đời sống của quốc gia và lo cho an sinh phúc lợi cho toàn dân và phục vụ người dân. Đó là cứu cánh của chính quyền. Ngoài những giá trị thực tế, thực dụng chính quyền và toàn dân phải duy trì, bảo vệ và phát huy lý tưởng của quốc gia---là phục vụ anh em đồng loại trên toàn thế giới theo đúng truyền thống ngoại giao mà các Founding Fathers của Hoa Kỳ muốn quốc gia Hoa Kỳ thực hiện sau Cách Mạng Hoa Ký vào 1776.

Trên tinh thần của Hiến Pháp đó Hoa Kỳ đã đoàn kết toàn dân, đoàn kết các Tiểu Bang để thành một Liên Bang và thành một quốc gia vĩ đại nhất trong lịch sử nhân loại. Sau đó Hoa Kỳ cũng đem tinh thần của Tuyên Ngôn Độc Lập và Hiến Pháp Hoa Kỳ để đoàn kết cả thế giới tự do, để cùng với các quốc gia yêu chuộng tư do sát cánh bên nhau để chống các đế quốc thực dân, chống các làn sóng độc tài,và tranh đấu cho quyền sống,quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của tất cả anh em đồng loại trên khắp thề giới từ một thế kỷ nay (1914-2014).

Theo tinh thần của văn minh dân chủ, tất cả mọi hình thức hợp tác chân chính trong xã hội, nhà nước cũng như tất cã xã hội dân sự của người dân với chính quyền hay người dân với người dân đều phải tuân theo những nguyên tắc chung mà Hiến Pháp quốc gia đã đề ra. Hiến Chương Liên Hiệp Quốc chính là Hiến Pháp Toàn Cầu được coi là căn bản cho tất cả mọi hợp tác quốc tế, đặc biệt là giữa quốc gia này và quốc gia khác.

Trên tầm mức quốc gia, chính quyền được thành lập nên như một cơ quan bảo vệ dân chủ qua một khế ước và được ký kết giữa người dân và chính quyền. Khi con người chưa có xã hội đến với nhau và hỏi nhau: “Anh có muốn chúng ta cùng nhau xây nên một xã hội có đạo đức, công bằng và công lý giữa tôi và anh không?” Có phải xã hội là nơi con người sinh ra và đưa họ đến với toàn bộ đời sống? Đời sống đó được lập nên bởi những con người tự do và bình đẳng nên phải có đạo đức và công lý thì con người mới có hy vọng sống với nhau được. Đó là tinh thần rút ra từ quan niệm dân chủ của Hoa Kỳ ngay từ thủa ban đầu

Trên tinh thần Giao Ước của một khế ước xã hôi khi thành lập chính quyền, đối với các viên chức chính quyền---tất cả những ai muốn được người dân trao quyền hành để đại diện dân trong guồng máy chính quyền thì phải có đạo đức, phẩm hạnh và khả năng thi hành công lý cũng như tạo ra an sinh phúc lợi cho người dân. Vì thế các cơ cấu chính quyền phải thỏa mãn được những đòi hỏi của những nguyên tắc về công lý, đạo đức, giá trị và lý tưởng của quốc gia. Công lý là công lý cho những con người tự do và bình đẳng có tài năng và đạo đức được hưởng những thành quả của họ tạo ra, và công lý là công lý cho những người nghèo khó và bất hạnh, không may mắn rất đông trong xã hội.

Các viên chức trong chính quyền đựơc dân trao quyền cho lãnh đạo quốc gia để thi hành luật (enforce the law) thì cũng theo luật--- người dân có quyền để chấp nhận chính quyền hay từ chối chính quyền bằng những lá phiếu của họ khi người cầm quyền hành thiếu đạo đức, phẩm hạnh và không có khả năng thi hành công lý và tạo ra an sinh phúc lợi cho dân.

Vì thế, điều cần thiết nhất đối với người dân muốn làm chủ xã hội và làm chủ đất nước thì họ phải có trách nhiệm và bổn phận với đất nước của họ. Khi người dân đòi hỏi chính quyền phải có đạo đức, phẩm hạnh và khả năng thi hành công lý thì người dân không thể là những người thất đức, bất công và vô trách nhiệm được với an sinh phúc lợi của người khác được. Đối với luật pháp mà Hiến Pháp đã qui định, nếu ai vi phạm luật công lý và luật đạo đức thì phải đưa ra tòa và tống giam, bất kể người đó là ai.

Bổn phận và trách nhiệm quan trọng nhất của người dân là kiểm soát chính quyền xem họ có vi phạm Hiến Pháp và các luật đạo đức và luật công lý khi họ nắm quyền hành không. Vì thế những nguyên tắc công lý đã trở thành các luật lệ và qui chế cho toàn bộ sinh hoạt kinh tế và xã hội. Muốn có khả năng làm chủ đất nước để thành lập nên chính quyền của dân, do dân và vì dân, người dân phải tự chủ, tự tin, tự trọng, tự kiểm soát lấy chính mình trước khi kiểm soát chính quyền; bởi vì tất cả quyền tự do của mọi người phải giới hạn trong trách vụ pháp lý (legal obligation)và trách vụ đạo đức( moral obligation). Vì những đòi hỏi đó và những nhu cầu đó, người dân phải có sự hiểu biết và kiến thức về toàn bộ đời sống của quốc gia trong đó có đời sống của riêng họ, và sự vận hành của guồng máy chính quyền mà do chính người dân thành lập nên và trao quyền hành cho các viên chức chính quyền đại diện của dân.

Muốn xây dựng một xã hội và một quốc gia dân chủ, chúng ta phải có những con người dân chủ để làm nền móng cho quốc gia đó. Con người dân chủ là những con người tự do và bình đẳng. Những con người đó đến với nhau để cùng nhau thành lập nên một xã hội dân chủ nên cần phải có chính quyền và luật pháp thật công minh và nghiêm minh thì mới bảo vệ được tự do và bình đẳng cho mọi người cũng như bảo vệ những giá trị nền tảng của dân chủ. Chế độ dân chủ là một LÝ TƯỞNG vĩ đại---bởi vì nền dân chủ được xây trên căn bản đạo đức, công lý và lý tưởng để bảo vệ quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc cho tất cả người dân. Và chế độ dân chủ cao quý này được xây dựng trên mối tương quan liên hệ giữa Trời Đất và con người cũng như mối tương quan giữa người và người nên không thể thiếu ĐẠO LÝ CỦA TRỜI và ĐẠO LÝ CỦA NGƯỜI XUẤT PHÁT TỪ TÂM ĐẠO được. Đúng như Samuel Huntington đã nhận xét, “không có nền văn minh lớn nào không xuất phát từ các tôn giáo lớn. Vì thế chối bỏ đạo lý của TRỜI và chối bỏ tôn giáo đã đem thảm họa cho nhiều quốc gia.

Và văn minh dân chủ của Hoa Kỳ xuất phát từ Do Thái giáo và Kito giáo cũng như xuất phát từ Tâm nên nền văn minh dân chủ này mới có đời sống tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng tốt đẹp như thế. Những con người chạy theo tinh thần duy lý, thực nghiệm, phàm tục, cá nhân chủ nghĩa, tự do buông thả và vô thần của nền văn minh phản đạo của Âu Châu đã chối bỏ giá trị của tôn giáo, cũng như những mất mát lớn lao của nền văn minh lạc đạo của Trung Hoa. Nên cả hai đã đánh mất hoàn toàn đời sồng tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng nên đã gây bao sai lầm và tai vạ cho cả Đông Phương và Tây Phương. Và dân tộc Việt nam là nạn nhân thê thảm của hai nền văn minh đó. Cái hậu quả lịch sử mà dân tộc này giờ đây vẫn đang gánh trên đôi vai quá nặng nề, đó là QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM vẫn còn đây.

Ngày nay đứng trước nhu cầu cấp bách và nghiêm trọng của của lịch sử là ĐOÀN KẾT DÂN TỘC để có đủ sức mạnh, đủ kiến thức, sự hiểu biết, đủ tài năng, đủ ý chí, đủ niềm tin, đủ sáng suốt, và những giá trị này chỉ có thể có được khi tất cả những con người tinh hoa của dân tộc ngồi lại với nhau để có thể có một giá trị tổng thể của đa nguyên của cả một dân tộc. Để từ đó mới cùng nhau phát động mạnh mẽ cuộc Cách Mạng Dân Chủ Đáy Tầng để giải phóng đất nước ra khỏi gông cùm khắc nghiệt của cộng sản và Tân Thực Dân Hán Tộc và xây dựng lại cơ đồ đang sụp đổ tan hoang. Để đi đến sự ĐOÀN KẾT DÂN TỘC chúng ta phải có một GIAO ƯỚC NHƯ MỘT KHẾ ƯỚC XÃ HỘI ĐỂ LÀM NỀN MÓNG CHO HIẾN PHÁP QUỐC GIA. Chúng ta phải làm thật sáng tỏ MỤC ĐÍCH CHÍNH CỦA SỰ ĐOÀN KẾT là gì? Phải chăng mục đích đầu tiên và trên hết là tôn trong quyền tự do và bình đẳng của mọi người. Khi đó những con người tự do và bình đẳng ấy đến với nhau trên một Giao Ước Đồng Thuận và sát cánh bên nhau để tranh đấu cách mạng với chế độ cộng sản độc tài tại Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu để đòi lại quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của toàn dân Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu. Mục đích kế tiếp của ĐOÀN KẾT DÂN TỘC là cùng nhau giương cao ngọn cờ VĂN MINH DÂN CHỦ TOÀN CẦU để tranh đấu cách mạng xây dựng tinh thần, đạo đức, công lý và lý tưởng cho xã hội và quốc gia dân chủ tại Việt Nam, Trung Hoa và các nước Á Châu. Dự thảo một hiến pháp mang biểu tượng của đạo đức, công lý và lý tưởng cho quốc gia để thực hiên và hoàn thành 6 mục tiêu của hiến pháp dân chủ là:


- ĐOÀN KẾT QUỐC GIA,

-XÂY DỰNG CÔNG LÝ,

-XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG THANH BÌNH AN LẠC CHO TOÀN DÂN,

-ĐỀ CAO AN SINH PHÚC LỢI CHO TOÀNN DÂN,

-XÂY DỰNG SỨC MẠNH QUỐC PHÒNG ĐỂ BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA,

-BẢO VỆ TỰ DO.


Mục đích còn lại là sửa soạn cho một đồ án và đưa ra một mô thức thành lập chính quyền dân chủ pháp trị (rules of law) hay (legal democracy) của dân, do dân và vì dân.

Mục đích kế tiếp là xây dựng nền móng vững chắc cho SỰ HỢP TÁC XÃ HỘI giữa người dân và chính quyền và giữa người dân với nhau trên tinh thần HIỂU BIẾT, BAO DUNG, ĐẠO ĐỨC VÀ CÔNG LÝ để cùng sống, cùng làm, cùng hưởng và cùng gánh vác những bổn phận và trách nhiệm cùng với chính quyền để lo cho toàn bộ đời sống của quốc gia và lo cho chính mình

Đã đến lúc chúng ta phải phá tan gông cùm xiềng xích văn minh lạc đạo của Trung Hoa để trả nó về với tham vọng bành trướng mù quáng của Đại Hán, và gởi cho họ luôn QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM của chúng ta để hoàn toàn đoạn tuyệt với quá khứ u ám của văn minh bái vật của người Phương Bắc. Cũng như giã từ tinh thần duy lý, phàm tục, thực nghiệm, cá nhân chủ nghĩa, tự do buông thả và vô thần của Tây Phương phản đạo. Để quay về với ĐẠO LÝ CỦA TRỜI VÀ TÂM ĐẠO ĐỂ PHỤC SINH KHUÔN MẶT NGÀN ĐỜI CỦA VĂN MINH TINH THẦN VIỆT TỘC. Theo tinh thần của Việt Đạo thì,

Cây có cội mới nảy ngành xanh ngọn

Nước có nguồn mới biển rộng sông sâu

CỘI NGUỒN CỦA VĂN HIẾN VÀ VĂN HÓA VIỆT TỘC XUẤT PHÁT TỪ CỘI NGUỒN ĐẠO LÝ CỦA TRỜI. NGUỒN NƯỚC ĐƯA CON NGƯỜI RA BIỂN RỘNG SÔNG SÂU CHÍNH LÀ TÂM ĐẠO. NỀN VĂN MINH TINH THẦN NÀY ĐÃ BỊ KHUYNH ĐẢO VÀ ĐÈ BẸP SUỐT 2000 NĂM QUA BỞI NỀN VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA NÊN DÂN TỘC VIỆT PHẢI SỐNG TRONG ĐIÊU LINH THỐNG KHỔ TỪ ĐỘ ẤY ĐẾN NAY. HÔM NAY SỰ THẬT ĐÃ ĐƯỢC KHÁM PHÁ VÀ SỰ THẬT ẤY CHO THẤY VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA ĐÃ BIẾN ĐỔI VÀ XÔ ĐẨY CON NGƯỜI VÀ XÃ HỘI VÀ BAO VÒNG SA ĐỌA VÀ TỘI LỖI KHÔNG SAO KỂ XIẾT ĐƯỢC TỪ MẤY NGÀN NĂM QUA. KHÔNG MẤY AI CÒN GIỮ ĐƯỢC LƯƠNG TÂM NÊN CỨ SỐNG LĂN LỘN TRONNG BÓNG TỐI MÀ KHÔNG TÌM THẤY MỘT SINH LỘ. NHƯNG KHI NẠN NHÂN CỦA SA ĐỌA VÀ TỘI LỖI ẤY BỖNG NHẬN RA SỰ THẬT THÌ SỰ THẬT ẤY SẼ GIẢI PHÓNG CON NGƯỜI ĐỂ NGƯỜI DÂN VIỆT CÓ CƠ HỘI VƯƠN LÊN THÀNH CHỦ THỂ CỦA CHÍNH ĐỜI MÌNH VÀ LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC CỦA MÌNH DƯỚI ÁNH SÁNG CỦA VĂN MINH TINH THẦN VIỆT VÀ ÁNH SÁNG CỦA VĂN MINH DÂN CHỦ TOÀN CẦU. CHÚNG TA---TẤT CẢ CHÚNG TA LÀ NHỮNG NGƯỜI DÂN VÀ LÀ CHỦ THỂ MỚI CỦA THỜI ĐẠI ĐỨNG LÊN PHẤT NGỌN CỜ CÁCH MẠNG DÂN CHỦ ĐÁY TẦNG ĐỂ CHIẾN ĐẤU VỚI CHẾ ĐỘ ĐỘC TÀI CỘNG SẢN VÀ CHIẾN ĐẤU VỚI BỌN GIẶC XÂM LĂNG HÁN TỘC ĐỂ ĐÒI LẠI QUYỀN SỐNG, QUYỀN TỰ DO VÀ QUYỀN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC THÂN YÊU CỦA CHÚNG TA, ĐỂ CHÚNG TA TRÂN TRỌNG TRAO LẠI QUYỀN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC CHO 90 TRIỆU DÂN VIỆT NAM, ĐỂ HỌ DUY TRÌ VÀ BẢO VỆ QUYỀN SỐNG, QUYỀN TỰ DO, QUYỀN TƯ HỮU VÀ QUYỀN TÌM KIẾM HẠNH PHÚC CỦA TOÀN DÂN VIỆT NAM. VÀ NHỮNG NGƯỜI DÂN TRUNG HOA VÀ CÁC NƯỚC Á CHÂU CŨNG ĐỒNG LOẠT ĐỨNG LÊN ĐỂ TRANH ĐẤU CÁCH MẠNG DÂN CHỦ ĐỂ ĐÒI QUYỀN SỐNG VÀ QUYỀN LÀM CHỦ ĐẤT NƯỚC CỦA HỌ. ĐÓ LÀ ĐÒI HỎI TẤT YẾU CỦA THỜI ĐẠI DÂN CHỦ HÓA TOÀN CẦU. KHÔNG CÓ AI CƯỠNG LẠI ĐƯỢC KHÁT VỌNG CHÂN CHÍNH CỦA CON NGƯỜI---ĐÓ LÀ QUYỀN SỐNG VÀ QUYỀN TỰ DO.

PHẢI CHĂNG SỰ THẬT ĐANG GIẢI PHÓNG CHÚNG TA? VÀ SỰ THẬT ẤY CŨNG GIÚP CHÚNG TA NHẬN RA QUỐC NẠN CHIA RẼ NGÀN NĂM CỦA DÂN TỘC VIỆT BẮT NGUỒN TỪ VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA. KHI CHÚNG TA QUYẾT LIỆT ĐOẠN TUYỆT VỚI NỀN VĂN MINH LẠC ĐẠO ĐÓ ĐỂ PHỤC SINH ĐẠO LÝ CỦA TRỜI VÀ TÂM ĐẠO CHO VĂN MINH TINH THẦN CỦA VIỆT TỘC SỐNG LẠI, VÀ VỚI MỘT GIAO ƯỚC ĐỒNG THUẬN NHƯ MỘT KHẾ ƯỚC XÃ HỘI CÓ NỘI DUNG ĐẠO ĐỨC, CÔNG LÝ VÀ LÝ TƯỞNG THÌ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC SẼ THÀNH TỰU VÔ CÙNG TỐT ĐẸP.

Công Dân Nguyễn Anh Tuấn

Nhóm Phát Huy Tinh Thần Hùng Gia Đại Việt và Việt Đạo viết ra tiểu luận này để:

- Tưởng nhớ và ghi ơn đến cái chết oan khiên của một quốc gia dân chủ thứ hai tại Á Châu và nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam vào 30 tháng 4-1975 vào tay Phong Trào Cộng Sản Quốc Tế mà Hồ Chí Minh và đảng Cộng Sản Việt nam đã được ủy nhiệm gây chiến tranh tàn khốc để cưỡng chiếm Miền Nam.

- Tưởng nhớ và ghi ơn đến người sĩ phu Đất Việt vô cùng khả kính, can trường và minh triết là Tổng Thống Ngô Đình Diệm, cùng tất cả các nhà ái quốc chân chính.

- Tưởng nhớ và ghi ơn đến toàn dân, tất cả quân cán chính Miền Nam đã đổ máu, nước mắt và mồ hôi để xây dựng nên quốc gia dân chủ và nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam suốt trong 9 năm, và đã gục chết vì bảo vệ quyền tự do và quyền sống của toàn dân Miền Nam, gục chết vì quốc gia và nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam trong suốt 20 năm chiến tranh máu lệ dâng tràn.

- Đặc biệt là tưởng nhớ và ghi ơn đến các quốc phụ Hoa Kỳ ( Founding Fathers) là những người đã khai sinh ra nền Dân chủ toàn cầu hiện nay và là những người muốn đem nền dân chủ đến cho tất cả nhân loại.

- Tưởng nhớ và ghi ơn đến 2 vị Tổng Thống Wilson và Roosevelt đã trực tiếp đứng lên tranh đấu cho nền độc lập các quốc gia và phát động cuộc Cách Mạng Dân Chủ trên toàn thế giới cũng như tại Việt Nam sau 1954.

- Tưởng nhớ và ghi ơn 2 vị Tổng Thống đã tham dự vào chiến tranh Việt Nam và chết vì chiến tranh Việt Nam và Á Châu đó là Johnson và Nixon.

- Sau hết là tưởng nhớ và ghi ơn 58.000 quân nhân Hoa Kỳ và đồng minh đã bỏ xác trên chiến trường Việt Nam vì chính nghĩa của tự do cho miền Nam và cả vùng Á Châu.

Câu hỏi sau chót là---Chiến Tranh Việt Nam là nơi quần thảo của hai dòng thác cách mạng: cách mạng bạo lực của cộng sản, và cách mạng dân chủ cộng hòa không tin bạo lực, nhưng rất tin tưởng vào sức mạnh của đạo đức, công lý và lý tưởng để thay đổi và chuyển hóa con người trước khi thay đổi và chuyển hóa xã hội. Cuộc cách mạng nào đã tước đoạt quyền tự do và quyền sống của con người? Và cuộc cách mạng nào tranh đấu cho quyền tự do và quyền sống của con người? Câu trả lời sẽ cho con người biết---AI THẮNG AI VÀ AI GIẢI PHÓNG AI TRONG CUỘC CHIẾN TRANH TẠI VIỆT NAM?

Hawaii ngày 2 tháng 10-2014

\