Văn Minh Trung Hoa (bài 2)

Nguyễn Anh Tuấn

TỪ NHỮNG LỜI PHẢN TỈNH CỦA LÂM NGỮ ĐƯỜNG ĐẾN NHỮNG KHÁM PHÁ MỚI VỀ NHỮNG SAI LẦM VÀ KHIẾM KHUYẾT CỦA VĂN MINH TRUNG HOA.


Trong cuốn “My country and my people” (quê hương tôi và dân tộc tôi ) của Lâm Ngữ Đường, xuất bản tại New York vào 1935, trong đó Lâm Ngữ Đường cho rằng Hoa Lục không đủ sức để chống trả lại những thách đố của Tây Phương đem đến cho Hoa Lục và Đông Phương. Ông quan sát giới trẻ cái gi cũng biết chút đỉnh: vô thần,Kito giáo,tự do,cộng sản,triết lý,khoa học. Đó là những ngày Hoa Lục với những hoạt động trí thức và chính trị đang rơi vào hỗn loạn, bởi vì theo ông, có một số rất ít hiểu được văn minh Trung Hoa của chính họ, và họ càng hiểu rất ít về Tây Phương. Ông cho rằng, “ Họ đứng giữa một đám đông quần chúng được giáo huấn bởi một nền văn hóa quá độ,và đồng thời bị cưỡng bách phải chấp nhận một sự thiếu sót lớn lao (great omission) do nền văn hóa Trung Hoa tạo ra. Sự thiếu sót thật quá vĩ đại mà không lấy gì bù đắp được cho trí tuệ của con người. Tinh thần hoàn toàn bị mất mát trong những xung đột.

Tất cả đều nhìn thấy Hoa Lục quá lạc hậu. Cách mạng đã diễn ra nhưng những thay đổi quá chậm chạp. Điều hiển nhiên là những yếu kém vụng về vẫn còn là những yếu kém vụng về. Cách mạng vẫn bảo thủ và vẫn xấu xa tồi bại như những Nho quan ngày cũ…những cảnh đói kém tràn lan khắp mọi nơi và thảm nạn tham ô và lãnh chúa chỗ nào cũng có mặt.

Thế nhưng, theo Lâm Ngữ Đường, người Tàu luôn luôn là loại người kiêu căng phách lối. Thường tự cho mình đứng trên tất cả các giống dân khác. Đứng trước thực trang đó, Lâm Ngữ Đường đã đưa ra một câu hỏi: “Có thực sự Thượng Đế đã chọn Trung Hoa Lục Địa là quốc gia đệ nhất giữa các giống dân khác không, hay Hoa Lục chỉ là đứa con sảy non của Mẹ Thiên Nhiên ?”

Đứng trước những thử thách của Tây Phương, Lâm Ngữ Đường nhìn thấy chính những người Hoa Lục cũng chẳng hiểu mình là ai. Họ có những xung dột giữa lý tưởng và thực tế, giữa dòng tộc và những người xa lạ. Linh hồn của họ bị xé nát tơi bời trên những xung đột, vừa muốn chống lại, vừa muốn trung thành với một Trung Hoa già cỗi tàn tạ, nửa lãng mạng, nửa ích kỷ, đôi khi có những giằng xé giữa sự kiêu hãnh và tủi hổ nhục nhã giữa gia tộc và dân tộc, giữa muốn cải cách hời hợt và tôn sùng Tây Phương. Tâm hồn và trí tuệ mang dòng máu Hoa Lục, bí hiểm của những bí hiểm, cưu mang tất cả những kiêu hãnh và tủi nhục tái tê trước những hào quang và những bệ rạc---vì thế gia sản gia tộc vẫn còn quá thiếu sót, chưa đủ để có một quốc gia dân tộc lớn lao trong tâm hồn. Đứng trước những cơn lốc đổi thay, những con người Hoa Lục hiện đại muốn khảo sát lại văn hóa Đông Phương và Tây Phương. Đó là cách duy nhất để văn hóa Đông Phương được khảo sát và đánh giá lại để tìm hiểu lại xem chính mình là ai.

Thế rồi Lâm Nhữ Đường lại đặt ra một tra vấn nữa: “TẠI SAO TINH THẦN QUỐC GIA KHÔNG NỔI LÊN ĐƯỢC”?

Tinh thần quốc làm sao nổi lên được khi đời sống quốc gia được tổ chức trên một căn bản văn hóa lạc hậu, già cỗi và suy vong tàn tạ…cái gọi là sự sống còn tồn vong của một dòng tộc đã làm nên đặc tính lạc hậu của tầng lớp tư sản và làm cho những người Trung Hoa phải sống trong những thảm họa chính tri (political disasters). Đứng trước quan niệm về con người nhân bản Trung Hoa, Lâm Ngữ Đường lại thắc mắc, “đời sống còn có nghĩa lý gì không”, khi mà những con người nhân bản Trung Hoa đã tìm thấy và thừa nhận cứu cánh tối hậu của cuộc đời và ý thức rõ rệt vế cứu cánh đó. Với người Trung Hoa, cứu cánh cuộc đời không nằm ở chỗ sau khi chết đi được vào nước Thiên Đàng như Kito Giáo---đó là điều không thể hiểu được. Cũng chẳng có Thiên Đàng, bởi vì nó quá trừu tượng và vô hình, không thể nào tới được, vì đó là thứ gì phù phiếm mơ hồ, cũng chẳng cần tiến bộ…để được cái gì chứ ? Cứu cánh thực sự (true end) mà người Hoa Lục đã quả quyết một cách rất rõ ràng minh bạch---cứu cánh ấy nằm ngay trên sự tận hưởng với những lạc thú của cuộc đời trần tục đơn giản, đặc biệt là mái ấm gia đình, dòng tộc.

Lâm Ngữ Đường còn nhận ra Trung Hoa thiếu hẳn TÂM HỒN XÃ HỘI để thành một con người của thế kỷ 20. Nhìn vào đời sống chính trị xã hội, Hoa lục là một quốc gia được thành lập nên bởi những con người cá thể của dòng tộc mà chưa phải là một dân tộc. (They are family minded, not social minded)

Họ là những con người mang tâm hồn gia đình, không phải tâm hồn xã hội, và họ chỉ chú trọng vào gia đình của họ như một hình thức làm gia tăng lòng ích kỷ (magnified selfishness). Điều hiếm hoi chính là hai chữ “xã hội” không xuất hiện trong suy tư của người Trung Hoa Lục Địa, ĐẠO LÝ CHÍNH TRỊ, XÃ HỘI CỦA KHỔNG TỬ, chúng ta chỉ nhìn thấy được phạm vi gia đình mà thôi.

Tinh thần xã hội (public spirit) là một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ với con người Hoa Lục, đó là ý thức xã hội (social consciousness). Những từ ngữ như thế không tìm thấy tại Hoa Lục và cũng không có những người có nhiệt tình với những công tác xã hội. Đối với những người Hoa Lục, làm những việc xã hội luôn luôn được nhìn như những kẻ “đi lộn dép của người khác”, hay “khùng điên không giống ai”. Công tác xã hội, hay những hành động phục vụ quốc gia, những con người này thường bị nhìn bằng những cái nhìn chế riễu khinh dể. Họ nhìn những ai có tinh thần xã hội, thì đã coi như đã chết với cha mẹ và gia đình. Họ hỏi người đó, “tại sao không trung thành tận tụy với gia đình, tại sao không tìm cách để thăng quan tiến chức ( promotion ) để giúp đỡ gia đình là ưu tiên hàng đầu?”

Vì hệ thống gia đình là gốc rễ của xã hội Trung Hoa nên từ đó tất cả đặc tính xã hội đã phát sinh.Từ hệ thống gia đình mới có làng xã lớn hơn gia đình. Từ gia đình và làng xã có thể giải thích được tất cả xã hội Trung Hoa. Đặc tính là sĩ diện hão, thiên vị, đăc quyền đặc lợi, thượng đội hạ đạp, nịnh hót hay tham ô quan lại (official corruption).

Các cơ cấu xã hội, trường học, tụ họp nhau lại để hối mại quyền thế, cuối cùng chính quyền cũng từ đó mà ra. Tinh thần gia đình đã trở thành thứ luật vững chắc làm căn bản cho mọi giao tiếp và ứng xử với bên ngoài. Lâm Ngữ Đường lại tiếp tục hỏi: “làm sao một con người có thể đối nhân xử thế trên tầm mức xã hội, khi người đó thiều hẳn tâm hồn và ý thức xã hội” ?.

Theo Lâm Ngữ Đường, hiếu với cha mẹ là đạo đức lớn nhất của gia đình. Tinh thần làm cha mẹ của dân của chính quyền cũng từ đó mà ra. Tất cả người Trung Hoa đều đã giam hãm trong ốc đảo của gia đình. Họ sống cho nhau và sống vì nhau đã làm nên những gia đình thật gắn bó. Vì trách vụ gia đình quá lớn lao, và danh giá gia đình được coi là cái gì thiêng liêng nhất trên đời nên tất cả đều giúp đỡ lẫn nhau, vì thế trong mọi tình huống và trong mọi hoàn cảnh, cả vua quan sẵn sàng làm hại tài sản quốc gia để lo cho gia đình và gia tộc của mình.

Từ đó mới có truyền thống “một người làm quan cả họ được nhờ”. Lâm Ngữ Đường rọi ánh sáng tâm thức của ông về đặc tính xã hội xuất phát từ hệ thống gia đình dẫn đến sự thiên vị trong dòng họ. Thí dụ như tình trạng tham ô quan lại; chỉ ví hoàn toàn thiếu kỷ luật xã hội nên đã làm hư hỏng tất cả tổ chức xã hội, và làm ung thối cả hệ thống công quyền. Kết quả là hòan toàn thiếu kỷ luật xã hội và tất cả không có ai coi luật pháp quốc gia là gì cả. Từ bản năng con người, chỉ muốn sống cho gia đình và chết cho gia đình mà thôi. Không có ai muốn chết cho quốc gia xã hội, mà lại càng không có ai chết cho thế giới, hay cho bất cứ cái gì lớn lao khác.

Hoa lục còn có tục lệ phân chia nam-nữ, giữa người cai trị và người bị trị, phân chia giữa già và trẻ. Khổng Giáo đã luôn luôn tự cho rằng đã đem ảnh hưởng văn minh để giảng dậy sự khác biệt giữa người và người và làm nên trật tự xã hội Khổng Giáo.Thay vì cổ súy cho bình đẳng xã hội thì lại quá chú trọng đến những dị biệt và đẳng cấp.Trong lúc đặc quyền đặc lới lại dành hết cho tầng lớp Nho quan.Lâm Ngữ Đường cho rằng, đặc quyền và đặc lợi chống lại sự bình đẳng và làm thành phản đề của tinh thần bình đẳng và là kẻ thù của dân chủ.Giới quan lại được hưởng mọi đặc quyền đặc lợi mà không bị đặt dưới quyền tài phán của ai cả. Chỉ có người dân phải phục tùng tuyệt đối những người “bề trên”, đóng thuế và tuân hành luật pháp quốc gia.

Đây là do tiền định nên người dân phải biết an phận. Kinh tế cũng hoàn toàn bất bình đẳng nên cộng sản đã lớn mạnh chỉ vì thế. Thuyết tiền định (fatalism) không chỉ đã ăn sâu vào tâm trí của người Hoa Lục, mà đó là một phần ý thức trong truyền thống Khổng Giáo.

Lâm Ngữ Đường mổ xẻ những căn bệnh trầm kha của văn minh Trung Hoa. Tác giả nhận thấy, quan lại thường có đầu óc thiên vị, không có một ai quan tâm tới công lý. Người dân bị hiếp đáp khắp nơi khôngcó ai bảo vệ dân. Vì thế tình trạng bất công luôn luôn xảy ra, giữa người có quyền thế thiễu số và những kẻ giầu có liên kết với nhau thật chặt chẽ, mà những người dân thấp cổ bé miệng thì lại quá nhiều. Nhưng tất cả đành chịu gục đầu câm nín để yên thân với số kiếp hèn mọn muôn đời. Bởi vì chính quyền là”cha mẹ dân”, tức những người quân tử. Ví thế Lão Tử cho Không Tử là người ngây thơ khi nghĩ rằng xã hội có đủ người quân tử để chăn dân giữ nước. Đây là tính toán rất sai lầm.

Lâm Ngữ Đường chiếu ánh sáng minh triết của ông và thấy, chính quyền thực sự tại Hoa Lục có thể mô tả là thứ xã hội chủ nghĩa làng xã(village socialism).Cai trị căn bản nhất vẫn là theo các phong tục tập quán và những luật lệ bất thành văn. Chính quyền là cha mẹ của dân, nhưng là thứ cha mẹ bất nhân, bất xứng và hoàn toàn vô trách nhiệm với “con dân”. Lâm Ngữ Đường nhìn vào đường lối cai trị dân và thấy, đời sống chính trị tại Hoa Lục thiếu vắng hiến pháp,và những điều khoản của luật định về những quyền dân sự của dân.

Khổng Tử chủ trương đức trị và nhân trị, tức chính quyền của người quân tử. Quan niệm tất cả Nho quan đều là quân tử và là những người có đức độ là một quan niệm thiếu thực tế và quá sai lầm. Thay vì xây dựng luật pháp có nội dung đạo đức cho tất cả quốc gia thì lại trông cậy vào đạo đức cá nhân nên đức trị và nhân trị chẳng bao giờ thành tựu ví quá xa rời thực tế. Chúng ta nên nghe lại lời trần tình của Hàn Phi Tử, đứng đầu phái pháp gia nói về thực trạng và con người của Trung Hoa như sau:

“Chúng ta có thể hy vọng có được 10 người lương thiện trong suốt đất nước. Nhưng chúng ta có cả hàng 100 quan chức. Kết quả là chúng ta có quá nhiều quan chức nắm chức vụ và quyền hành hơn là 10 người lương thiện.Như vậy chúng ta có 10 người lương thiện và có 90 người không lương thiện nắm giữ quyền hành”.

Từ thực tế đó cho thấy cả quốc gia không có một hệ thống luật pháp để thành một trật tự pháp lý (legal order), trật tự chính trị, và trật tự xã hội để bảo vệ dân. Giấc mơ ĐỨC TRỊ và NHÂN TRỊ chẳng bao giờ có được. Những tội lỗi của tầng lớp Nho quan không sao kể xiết được nhưng lại không hề bị truy tố nên tội lỗi gần như được dung dưỡng và bảo vệ nên xã hội càng ngày càng bệnh hoạn. Hàn Phi Tử tin tưởng rằng luật pháp phải có giá trị tối thượng, và khônng thể vi phạm khi đem ra áp dụng cho người cai trị và người bị trị.

Cuối cùng Lâm Ngữ Đường đã kết luận: văn hóa Đông Phương chỉ có tính chất khoa trương không có thực chất. Tìm hiểu nội dung của Khổng Học thì thấy không bao giờ là tư tưởng chính trị vì quan niệm sai lầm về đạo đức. Không nên tôn vinh và gọi tên là “lý thuyết chính trị” (political theory).Cái tư tưởng về một chính quyền đạo đức và lòng nhân từ thi quá tưởng tượng. Sau đó tác giả cho rằng: “chúng ta liên tục nói vế đạo đức từ hơn 2000 năm qua mà quốc gia chưa bao giờ xây dựng được đạo đức. Những xấu xa tội lỗi của chính trị từ ngàn xưa…bây giờ tất cả vẫn còn đó. Trung Hoa Lục Địa vẫn không làm sao có được một chính quyền tốt đẹp hơn và trong sạch hơn. Các Nho quan thì biết chắc chẳng có ai làm gì họ được. Có lẽ tất cả những người muốn nâng giá trị đạo đức lên đều có cái tâm quá xấu xa và hắc ám “

15 KHUYẾT ĐIỂM, SAI LẦM VÀ MẤT MÁT CỦA NỀN VĂN MINH TRUNG HOA.


Samuel Huntington, một học giả lỗi lạc của Hoa Kỳ tại Đại Học Harvard cho rằng,Lịch sử của con ngưới là lịch sử của văn minh. Văn minh gồm những giá trị vật chất, tinh thần, văn hóa, lý tưởng, và đạo đức. Văn minh lớn không thể không có lý tưởng, đời sồng tinh thần, đời sống tâm linh và đời sống đạo đức.Harvard là trung tâm trí thức tột đỉnh của thế giới, được John Havard sáng lập lên ngay từ ngày lập quốc của Hoa Kỳ để nối tiếp truyền thông trí thức của Oxford và Cambridge của những người Puritans tại Anh quốc. Đó là những lò đào tạo không biết bao thế hệ thiên tài và nhân tài trên mọi lãnh vực, đặc biệt là những nhà lãnh đạo tôn giáo và lãnh đạo chính trị lừng lẫy cho nước Anh và nước Mỹ cũng như cho cả Âu Châu và thế giới của trường phái Protestant---Tin Lành Cơ Đốc Giáo suốt bao thế kỷ qua. Vì thế tất cả những người Việt Nam,Trung Hoa và các nước Á Châu muốn có một nền văn minh văn hóa tổng hợp Đông Phương và Tây Phương thì phải nghiên cứu văn minh Tây Phương, đặc biệt là VĂN MINH DÂN CHỦ của Hoa Kỳ xuất phát từ hai tôn giáo lớn là DO THÁI GIÁO VÀ KITO GIÁO để thấy chối bỏ tôn giáo trong đời sống con người và đời sống xã hội là MỘT ĐẠI THẢM HỌA mà kết quả mọi người đã thấy trong các chế độ Nho quan phong kiến và cộng sản tại Việt Nam,Trung Hoa và các nước Á Châu. Ở những xã hội ấy văn minh văn hóa đã sai lầm, khiếm khuyết và mất mát những gì, thì Lâm Ngữ Đường đã sáng suốt và can đảm nói ra, nhưng chưa nói ra NGUYÊN NHÂN NÀO đã dẫn đến những sai lầm và mất mát vĩ đại đó . Từ quan niệm và định nghĩa về văn minh của Samuel Huntington cho chúng ta thấy các nền văn minh và văn hóa Việt Nam và Trung Hoa không chú trọng tới đời sống tinh thần, không có lý tưởng, không có đời sống tâm linh và không có cả đời sống đạo đức. Dù sao chúng ta phải thành thật tri ân Lâm Ngữ Đường đã cất lên tiếng nói, không chỉ là một triết gia lừng lẫy của Trung Hoa vào thế kỷ 20, mà ông là một true prophet đã được ƠN TRÊN mặc khải để thức tỉnh cơn mê ngủ ngàn năm của Trunh Hoa Lục Địa với một nền văn minh và văn hóa đầy khuyết điểm, sai lầm và mất mát đã đưa đến THẢM HỌA CHÍNH TRỊ cho toàn dân Hoa Lục và cho cả các nước lân bang từ bao ngàn năm qua.

Đứng từ những thực tế của bao ngàn năm lịch sử chồng chất những đau thương đó, chúng ta nên lắng nghe thêm tiếng nói của Henry James khi nhìn vào Hoa Lục và ông nhận thấy trong đời sống xã hội Hoa Lục: “giữa con người và con người không có được một chút tinh thần nào để gắn bó vối nhau”. Ngày nay nhìn vào xã hội Việt Nam,Trung Hoa đang trên đường sụp đổ và tan rã vì thảm nạn chia rẽ giữa những người thống trị và những người bị trị, vì đời sống tinh thần, tâm linh, đạo đức và lý tưởng hoàn toàn không có. Thảm họa chính trị mà cả tỉ con người phải gánh chịu từ bao ngàn năm qua---bây giờ dưới chế độ độc tài cộng sản…tất cả vãn còn đó. Và Việt Nam với 1000 năm đô hộ giặc Tàu là 1000 năm phải gánh chịu THẢM HỌA CHÍNH TRỊ BÁ ĐẠO của giặc Phương Bắc cũng như phải gánh chịu 2000 năm với kiếp nô lệ bởi một GÔNG CÙM VĂN HÓA BÁI VẬT NÊN ĐÃ MẤT ĐẠO LÝ CỦA TRỜI VÀ MẤT LUÔN TÂM ĐẠO nên con người sống mà không còn đời sống tinh thần, không còn đời sống lý tưởng, không còn đời sống tâm linh và không còn đời sống đạo đức nữa. Thực tế cho thấy văn minh Trung Hoa và văn minh Việt Nam đã và đang sụp đổ, và xã hội Việt Nam và Trung Hoa cũng đang sụp đổ, vì đời sống xã hội không còn một chút tinh thần để con người gắn bó với nhau.

Đứng trước thực trạng xã hội và thực tế hiển nhiên của lịch sử với những đòi hỏi khẩn thiết của đời sống của xã hội con người Việt Nam,Trung Hoa và các nước Á Châu phải sửa soạn bước vào thời kỳ PHỤC HƯNG (renaissance). Các quốc gia Á Chân không còn một chọn lựa nào khác, nếu không muốn kéo dài cơn hấp hối hay đi vào những nỗ lực chắp vá hay tự ru ngủ mình bằng những ảo tưởng như các chế độ phong kiến từ bao ngàn năm qua và chế độ cộng sản từ gần một thế kỷ qua. Văn minh Trung Hoa sẽ sụp đổ thê thảm mà không sao tránh được.

HÃY CÙNG NHAU CAN ĐẢM NHÌN VÀO 15 KHUYẾT ĐIỂM CỦA VĂN MINH TRUNG HOA


1---Quan niệm về con người rất mơ hồ, sai lạc và thiếu thực tế trước sự bất hoàn hảo của con người--- tất cả chúng ta không có ai là Thiên Thần cả. Đành rằng con người cần thực tế và thực dụng mới đáp ứng được những nhu cầu cho sự sống như cơm ăn, áo măc và nhà cửa, nhưng vì con người bất toàn nên cần có lý tưởng để giúp con người cải thiện và tiến hóa. Thiếu lý tưởng con người không bao giờ hoàn thiện được kiếp nhân sinh của mình.

2---Vì không xây dựng được giá trị nhân bản tâm linh (spiritual humanism) trên TÂM của con người, và thiếu sự hiểu biết và kiến thức về Đạo Lý, tức luật lệ thiên nhiên trong Trời Đất, nên con người sống nghịch lại với luật Trời và coi tôn giáo là mơ hồ trừu tương, là vấn đề của cá nhân nên đời sống tôn giáo trở thành mê tín dị đoan để cầu danh cầu lợi ích kỷ cho riêng mình. Trong khi không có tôn giáo thì không có ai có thể dìu dắt con người về với nguồn sống bao la trong vũ Trụ là hiện thân của ĐẤNG TẠO HÓA , và về với luật lệ thiên nhiên trong Trời Đất. Thực tế lịch sử tại Trung Hoa cho thấy, chối bỏ tôn giáo là một ĐẠI THẢM HỌA cho kiếp người và cho xã hội con người; bởi vì chối bỏ tôn giáo là chối bỏ đời sống tinh thần, đời sống đạo đức, đời sống tâm linh và đời sống lý tưởng khi con người cần hoàn thiện và tiến hóa.

3---Vì đánh mất TÂM ĐẠO nên con người đã đánh mất đời sống tinh thần, đạo đức, tâm linh và lý tưởng. Không tu dưỡng TÂM ĐẠO con người sẽ không tìm đâu được sáng suốt và sự minh triết cho mọi sáng tạo. Lúc nào con người cũng sống trong vô minh và không bao giờ ổn định được đời sống nội tâm. Từ đó mới có nhân tâm ly tán và chia rẽ trong đời sống xã hội.

4---Nước Trung Hoa không có tôn giáo. Phật giáo từ Ấn độ du nhập vào Trung Hoa, nhưng Phật giáo trong một xã hội phong kiến không thể nào phát triển được và đã trở thành mê tín dị đoan trong đại chúng. Trung Hoa có ĐẠO HỌC và Tam Giáo, nhưng đánh mất Thiên Đạo và Tâm Đạo nên Không đưa được luật thiên nhiên và trật tự thiên nhiên thành luật pháp quốc gia và trật tự xã hội.

5---Luật pháp quốc gia và xã hội đều do con người viết ra, chứ không tuân thủ theo luật đạo đức, luật công lý, và luật tình thương của vũ trụ nên đời sống con người và đời sống xã hội không có tinh thần, âm linh, đạo đức và lý tưởng nên con người không sống đoàn kết với nhau được. Vì thế mối tương quan giữa con người và đấng Tạo Hóa và mối tương quan giữa người và người vẫn chưa xây dựng được.

6---Vì thiếu giá trị nhân bản tâm linh, và thiếu hệ thống luật pháp có nội dung đạo đức và công lý cũng như sự ổn định để làm nền tảng cho NHỮNG HỢP TÁC XÃ HỘI giữa người dân và chính quyền và giữa người dân với nhau.

7---Chiến lược giáo dục quốc gia không chú trọng tới việc phát triển toàn diện tâm hồn và trí tuệ cho con người nên đời sống trí thức, tinh thần và đạo đức rất hời hợt và mong manh nên không tận dụng được tài năng và năng lực trong khối tài nguyên nhân lực của quốc gia đang sẵn có để làm giầu cho quốc gia, và tạo ra hạnh phúc của toàn dân.

8---Tầng lớp cai trị nắm quyền hành quốc gia không được đào tạo và uốn nắn và sàng lọc trên tiêu chuẩn tài năng, đức độ, sự hiểu biết và kiến thức về hệ thống chính trị và toàn bộ đới sống của toàn dân cũng như thiếu trách nhiệm khi nắm quyền hành để phục vụ dân và đem phúc lợi cho toàn thể xã hội dù thời đại Nho quan và “phụ mẫu chi dân” đã qua rồi.

9---Chưa xây dựng được một chính quyền của luật pháp (government of law) mà vẫn là chính quyền của con người (government of man) là hình thức tổ chức chính quyền rất lạc hậu. Nhân trị và đức trị là một tính toán thiếu thực tế và quá sai lầm nên đã đưa đến những THẢM HỌA CHÍNH TRI không chỉ cho dân Trung Hoa mà cho cả các quốc gia lân bang từ bao ngàn năm qua và thảm họa chính trị bây giờ vẫn còn đó.

10---Giá trị cốt lõi của văn minh văn hóa là văn hóa chính tri. Vì mất Thiên Đạo và Tâm Đạo nên nội dung chính trị thiếu hẳn ĐẠO ĐỨC, CÔNG LÝ và ỔN ĐỊNH. Từ đó dẫn đến CHÍNH TRỊ BÁ ĐẠO mang đầy tính chất cường quyền và bạo lực.

11---Vi thiếu hẳn sự hiểu biết và kiến thức về luật thiên nhiên nên luật pháp không có sự công minh, nghiêm minh và đạo đức. Không có căn bản để suy tư và xét đoán nên mọi nhận thức, phán đoán theo bản năng và cảm tính nên rất lệch lạc, thiên kiến, thiển cận và rất xa sự thật và lẽ phải.

12---Con người thường tự mãn, kiêu căng và không biết đó là những tội lỗi mà Trời ghét nhất nơi con người. Vì tự mãn và kiêu căng nên không có khả năng chấp nhận những giá trị ĐA NGUYÊN nên không chịu học hỏi tìm tòi nghiêm chỉnh nơi các nền văn minh lớn của thế giới như Do Thái giáo, Kito giáo, Ấn độ giáo hay Hồi giáo để so sánh, đối chiếu để biết mình là ai và người khác ra sao. Từ đó tự làm mất đi cơ hội để phát triển đời sống trí thức, tinh thần và đạo đức của chính mình.

13---Thường thất bại về hiện đại hóa vì chỉ học được cái vỏ của Tây Phương mà không thẩm thấu được những phần tinh hoa và tinh thần của văn minh Tây Phương và văn minh dân chủ. Việc phát triển khoa học kỹ thuật trông vào sự trợ giúp của Hoa Kỳ và Tây Phương nhưng lại kỳ thị chủng tộc và chống Hoa Ký và Tây Phương một cách mù quáng, vi không phân biệt cái lợi ,cái hại cũng như không sáng suốt để phân biệt bạn-thù.

14---Học hỏi từ Hoa Kỳ và Tây Phương đủ thứ, nhưng lại quay mặt trướcnhững giá trị tuyệt vời của Hoa Kỳ là VĂN MINH DÂN CHỦ VÀ TINH THẦN CỘNG HÒA để cải thiện đời sống chính trị để quốc gia được phú cường và toàn dân được sống thanh bình thịnh trị.

15---Quyền lợi kinh tế và quyền lực chính trị nằm trọn trong tay của giai cấp đặc quyền đặc lợi. Trong khi đó thì tuyệt đại đa số quần chúng phải sống trong nghèo đói xác xơ chỉ vì chính tri không có nội dung luật pháp là ĐẠO ĐỨC, CÔNG LÝ và ỔN ĐỊNH .

VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA VÀ VĂN MINH DÂN CHỦ TOÀN CẦU


Đúng như Lâm Ngữ Đường đã sáng suốt nhận ra, những người Trung Hoa phải khảo sát lại văn minh Đông Phương và văn minh Tây Phương. Đây là cơ hội để người Trung Hoa khảo sát lại nền văn hóa của chính mình để biết mình là ai. Theo thống kê giáo dục của Hoa Kỳ thi từ 1945 đến nay (1945-2014). Mỗi năm thế giới gởi đến mỹ khoảng 500.000 sinh viên các ngành. Một nửa số sinh viên đến từ các quốc gia Á Châu. Từ thống kê đó cho thấy có tối thiểu là 15 triệu sinh viên Á Châu đến học tại Mỹ trong gần 70 năm qua, nhưng có mấy người học được nền VĂN MINH DÂN CHỦ VÀ TINH THẦN CỘNG HÒA của Hoa Kỳ để đem về quốc gia của họ ?Thật khó mà kiếm được những người dám bỏ vài chục năm để học hỏi và tìm kiếm nền VĂN MINH DÂN CHỦ khi nó không đem lợi gì cho cá nhân của họ. Sau đệ II thế chiến, sau khi Nhật đầu hàng thì nước Nhật phải sống trên đống gạch ngói điêu tàn của chiến tranh. Hoa Kỳ và Tướng Mc Athur đã đem VĂN MINH DÂN CHỦ VÀ TINH THẦN CỘNG HÒA của Mỹ đến cho nước Nhật để giúp cho nước Nhật trở nên giàu sang thịnh vượng nhất Á Châu và thế giới suốt gần 70 năm qua.

Tại Việt Nam vào 1954, sau khi thực dân Pháp trao trả độc lập cho Việt Nam, Hoa Kỳ cũng đã giúp Tổng Thống Ngô Đình Diệm và toàn quân ,toàn dân Miền Nam Việt Nam xây nên nền Đệ I Cộng Hòa Việt Nam như họ đã giúp Nhật. Đây là nền dân chủ thứ hai tại Á Châu và là nền dân chủ đầu tiên trong 70 quốc gia Đệ III cũng vừa được trả độc lập sau Đệ II thế chiến. Các nước Á Châu và cả thế giới nhìn Sài gòn là HÒN NGỌC CỦA VIỄN ĐÔNG với tẩt những lời khen ngợi và kính nể của các lãnh tụ Á Châu và thế giới. Và Mao Trạch Đông đã xử dụng Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản Việt Nam để gây ra Chiến Tranh Việt Nam với chiêu bài “giải phóng dân tộc” và tranh đấu giành độc lập cho Việt Nam. Sau khi cưỡng chiếm Miền Nam, những người cộng sản đã biến HÒN NGỌC VIỄN ĐÔNG thành địa ngục trần gian cho đến hôm nay. Bản chất của Chiến Tranh Việt Nam vẫn chỉ là những trá hình liên tục của tham vọng bành trướng của lũ người suốt đời chỉ ôm mộng tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương và tranh quyền cướp nước của các nước lân bang. Những con người này là sản phẩm của nền văn minh lạc đạo của Trung Hoa từ bao ngàn năm qua, và nền văn minh này đã đem đến NHỮNG THẢM HỌA CHÍNH TRI chồng chất cho người dân Trung Hoa và các nước lân bang từ 2000 năm qua.

Kể từ đời nhà Tần (246-206 BC ) đốt sách và chôn học trò, từ đó đánh dấu cái mốc sa đọa của văn minh Trung Hoa khi Tần Thủy Hoàng sai tướng Đồ Thư sang xâm lăng Bách Việt ở Hồ Nam, Quảng Đông và Quảng Tây. Rồi từ đó liên tục nối tiếp lịch sử với các cuộc xâm lăngcủa Hán-Đường-Tống-Nguyên-Minh-Thanh. Và bây giờ thì cộng sản Hoa Lục đang lấn chiếm lãnh thổ, lãnh hải với âm mưu chiếm đọat nước Việt Nam để tạo ra những tranh chấp tại Biển Đông vô cùng nghiêm trọng, đe dọa nền hòa bình và ổn định của Á Châu và thế giới. Từ đó đến nay đã trên 2000 năm mà những người phương Bắc chưa bao giờ để cho đồng loại được sống yên thân. Vì thế Samuel Huntington đã đưa ra nhận xét của ông, “những ảo tưởng thống trị các nước lân bang của Trung Hoa Lục Địa từ 2000 năm qua ngày nay vẫn còn đó”. Ảo tưởng thống trị đó đã phản ảnh thật chính xác NỀN VĂN MINH LẠC ĐẠO CỦA TRUNG HOA. Vì thế ca dao Việt Nam thường nói: “Không có Trời ai ở được với ai?”Một chủng tộc lúc nào cũng phô trương là có một nền văn minh lâu đời nhất lịch sử của nhân loại, thế mà từ bao ngàn năm qua, chỉ đi kiếm sự sống và hạnh phúc của mình trên sự đau khổ chồng chất của người dân và của các nước lân bang. Quê hương của Tam Giáo và bao nhà Đạo Học lại đánh mất lương tâm và lạc đạo lâu như thế này hay sao ? Vì lẽ đó, chúng tôi có lời khuyên các nhà lãnh đạo Hoa Lục hiện nay muốn tìm kiếm gì tại Việt Nam và Biển Đông ?

Tại sao không đi tìm lại lương tâm của chính mình, mà cứ đi tìm lợi lộc trên sự đau khổ của người khác mãi như thế này ?

Hãy một lần lắng nghe tiếng nói của lương tâm đồng loại, và nhìn lại những bàn tay đẫm máu con người của mình xem còn xứng đáng là những người có một nền văn minh Đạo Học lâu đời nhất thế giới hay không? Tại sao không tìm kiếm lại lương tâm của chính mình, và mau mau tự cứu vớt nền văn minh Trung Hoa ra khỏi con đường lạc đạo và phản đạo. Hãy quay đầu trở về với luật lệ của Trời Cao, và quay về với luật lệ đã ghi khắc trong lương tâm của chính mình. Luật ấy thật đơn giản mà Thánh Kinh đã viết ra: “ Hãy làm những gì muốn người khác làm cho mình”.Hãy lắng nghe các nhà Đạo Học Trung Hoa dặn dò từ ngàn thủa trước: “ Xưa Khổng Tử ít khi bàn về Trời, nhưng cũng nhận Trời là đấng chủ thể trong vũ trụ, xếp đặt mọi việc, và có luật lệ thiên nhiên mà con người phải theo, Đạo vốn không phân biệt giữa Trời và người, ở Trời thì gọi là Thiên Đạo, ở đất thì gọi là Địa đạo, và ở người thì gọi là Nhân đạo.Các Nho gia cho rằng,Thiên-Địa-Nhân vạn vật đồng nhất thể, con người phải theo đúng luật thiên nhiên để hòa đồng cùng vũ trụ. Trung là cái gốc của mọi sự vật, hòa là diệu dụng của đạo Trung Hòa là cái luật thiên nhiên đem đến sự quân bình của vũ trụ, luật này chi phối cả vũ trụ, từ trời đất đến vạn vật và con người (Đại cương triết học Trung Quốc,quyển hạ,trang 118 . Nguyễn Hiến Lê.)

Theo Nguyễn Hiến Lê, người Trung Hoa tin rằng,Trời và người có thể tương cảm tương ứng được; nên có điều gì hồ nghi, họ thường thành tâm dùng bốc phệ---bói mai rùa. Tất cả các vua đều đặt quan thái bốc để coi bói toán (trang 24 ). Còn Mạnh Tử cho rằng, con người khác cầm thú ở chỗ “lương Tâm”. Biết nuôi dưỡng cái tâm thì thành thánh nhân, không biết nuôi dưỡng cái tâm thì thành cầm thú. Lương tâm cũng như mầm non mà hành động bất nhân tựa như búa rìu. Ngày nào cũng làm điều ác thì mầm non phải chết đi. Lúc đó con người không khác gì cầm thú (Nguyễn Hiến Lê, trang 75)

Như vậy vấn nạn lớn nhất của văn minh và văn hóa Trung Hoa là mất ĐẠO TRỜI, và những luật lệ thiên nhiên trong vũ trụ. Khổng Tử và các nhà Đạo Học đều đã nói đến ĐẠO TRỜI, nhưng Đạo Trời là gì và luật lệ thiên nhiên là gì, thì Khổng Tử và các nhà Đạo Học chưa có ai hiểu rõ. Đó là chỗ MẤT MÁT LỚN NHẤT mà chính Lâm Ngữ Đường cũng chưa kịp nhận ra. Mặc dù DỊCH LÝ có bàn tới qui luật biến hóa trong trời đất, nhưng cũng chưa biết chính xác những luật lệ đó như thế nào để đem ứng dụng vào việc xây dựng trật tự trong xã hội. Tất cả vẫn là những giấc mơ chưa bao giờ thành tựu tại Trung Hoa. Bên cạnh ĐẠOTRỜI, người Trung Hoa còn đánh mất luôn TÂM ĐẠO là trung tâm điểm và xuất phát điểm cho mọi giá trị nhân bản. Đó là con người NHÂN BẢN TÂM LINH (spiritual humanism) thì Khổng Tử và các nhà Đạo Học cũng chỉ nói phớt qua nên TU THÂN, TỀ GIA , TRỊ QUỐC VÀ BÌNH THIÊN HẠ cũng chỉ là cách nói mang tính chất phô trương, chưa bao giờ có sự thật. Bởi vì khi con người không chú tâm vào tu TÂM ĐẠO thì thân lấy gì mà tu, tề, trị, bình ?

Đứng trước những vấn nạn quá khủng khiếp của lịch sử văn minh Trung Hoa, con người cần lắng nghe một người trí thức sùng đạo (religious intellectual) của Âu Châu là Hegel nói rằng: “ lịch sử đã trải qua những thời kỳ dài đăng đẳng, với bao lầm lạc, sa đọa trong vòng tội lỗi. Mục tiêu cuối cùng là nhận ra sự thật ấy và cố gắng vượt qua, hãy để tâm tư thật lắng đọng để nhìn thật rõ ràng sư thật trong đó. Con người phải tìm lại con người”. Hegel nhận thấy, con người đã trải qua một thời gian dài trong trạng thái ấu trĩ và non kém, và họ đã trở thành nạn nhân của thiên nhiên và nạn nhân của xã hội. Ngày nay đang vươn mình để trở thành chủ thể tự cai quản và phát huy lấy chính mình. Một quốc gia sẽ lấy trật tự của đạo đức để xây dựng trật tự quốc gia.

Con người có thể tìm thấy lịch sử là một cuộc chiến đấu không ngừng cho tự do, cho quyền sống, con người cá thể đòi hỏi phải nắm được bản chất của con người như một điểm chính yếu cho mọi xây dựng và thành tựu, và tất cả mọi người đều có quyền bình đẳng để phát triển tài năng của mình. Trật tự xã hội hiện hành phải được tái tổ chức, chủ nghĩa chuyên chế, và những gì còn lại của chế độ phong kiến và độc tài phải dẹp bỏ đi. Từ ánh lửa bập bùng cháy trong tâm thức trước một xã hội như thế, tiếng nói từ lương tâm con người lại vang lên: “ Không có luật pháp và công lý, lấy gì bảo đảm không bị sưu cao thuế nặng, độc ác và độc đoán, đời sống của con cái chúng ta quá bấp bênh, quyền tự do và những quyền của chúng ta đều bị tước đoạt, quyền năng của độc tài đã sống trên sự đau khổ của chúng ta, sự sống của chúng ta quá mất mát và tả tơi, tinh thần dân tộc tàn tạ héo úa, đấy là thực trạng của đất nước chúng ta.”

Martin Luther, nhà cải cách tôn giáo vĩ đại nhất thế giới tại Âu Châu vào thế kỷ 16 đã nhắn nhủ rằng, “Hãy tìm kiếm nơi chính mình, không phải tìm kiếm ở bên ngoài để tựu thành đời sống của chính mình. Văn hóa nước Đức không tách khỏi Tin Lành Cơ Đốc giáo---đó là vương quốc của chân-thiện-mỹ, của tự do và của luân lý đạo đức---tất cả không thể để lung lay bởi những thứ bên ngoài. Giá trị nội tâm đó tách khỏi thế giới khổ đau trong xã hội, và an trụ trong linh hồn của con người. Chiều hướng này là nguồn gốc có thể tìm thấy trong chủ nghĩa vương đạo của nuớc Đức (German Idealism), đó là một giá trị vững vàng rất thích hợp cho thực tế xã hội, chiều hướng hợp nhất và hòa đồng giữa những con người lý tưởng trước mọi xung đột để cùng nhau xây nên một xã hội hợp với chân lý và lẽ phải. Vì thế văn hóa là lý tưởng mang tính cách nền tảng, ưu tư tới những tư tưởng của mọi lãnh vực hơn là chỉ nghĩ đến riêng mình, phải có tự do trong tư tưởng trước khi có tự do trong hành đông, phải có luân lý đạo đức trước khi thi hành công lý, phải có đời sống nội tâm trước khi có đời sống xã hội. Đó là lý tưởng của văn hóa.

Lý tưởng đã bị vứt bỏ ra khỏi đời sống thực tế, thật là hẹp hòi thiển cận, vì thế đã biến văn hóa thành xác khô và bất động. Đâu còn gì phải nghi ngờ nữa, con người chỉ có những vinh danh xưng tụng hão huyền, và cổ súy cho sự giả dối, vì thế mà mà chân lý trong nội dung văn hóa đã không tìm thấy trong thực tế của lịch sử”.

Nếu văn minh Đông Phương mà Lâm Ngữ Đường đã sáng suốt và can đảm vạch trần ra về những sai lầm, khiếm khuyết và những mất mát không lấy gì bù đắp được, thì văn minh Tây Phương cũng đi vào con đường phản đạo từ thời Phục Hưng vào thế kỷ 14 và thời Ánh Sáng vào thế kỷ 18. Nhưng Tây Phương may mắn vẫn còn có những khuôn mặt vô cùng minh triết như Saint Augustine,Thomas Aquinas, St Francis Assissi, Luther, Calvin, John Wycliffe, William Tyndate,Toynbee và những nhà LẬP QUỐC HOA KỲ (American Founding Fathers)…Tất cả đã quay về với cuốn Thánh Kinh để học hỏi, tra cứu và tìm tòi ánh sáng dẫn đường để thoát khỏi những mê cung chằng chịt với những mưu lược chính trị của cường quyền và bạo lực, để bước ra khỏi các mê lộ của giới trí thức duy vật và vô thần, đồng thời nhìn thẳng vào Âu Châu và Á Châu để trực diện với bản chất mà Thánh Augustine đã nhắc nhở họ. Họ biết con người không có ai là thiên thàn cả--nếu đặt niềm tin vào những mưu lược chính trị bá đạo hay chính trị lạc đạo là đặt niềm tin vào những kẻ cướp, và bất lương trong thời hiện đại.

Chính những con người tinh anh, sáng suốt này đã đứng ra cứu vớt tất cả nhân loại thoát khỏi sự xâm lăng và khuynh đảo của thứ văn minh phản đạo (apostasy civilization) hay lạc đạo (heretical civilization) của Tây Phương qua các làn sóng đế quốc thực dân và độc tài của cường quyền và bạo lực, và cứu vớt nền văn minh Kito giáo đang bị tấn công từ mọi phía. Đúng như G.K Cheslerton đã nói: “điều mà tôi đã nhìn thấy tại Hoa Kỳ là Hoa Kỳ là một quốc gia duy nhất trên thế giới đã xây dựng quốc gia của họ trên đức tin tôn giáo (religious faith). Đức tin ấy đã đưa đến những tín điều và thần học thật sáng tỏ vào trong BẢN TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP. Và sau đó trở thành một quốc gia tự do nhất, hùng cường nhất và giầu có phồn vinh thịnh vượng nhất trong lịch sử nhân loại.”

Washington đã có một quan điểm về sự thiêng liêng của con người với một linh hồn bất tử. Dưới hệ thống chính trị Hoa Kỳ, linh hồn, trí tuệ và thể xác của con người phải thoát được mọi cạm bẫy của thế gian để hoàn thành viên mãn cuộc sống bây giờ và mai sau.

John Quincy Adams Tổng Thống thứ 6 của Hoa Kỳ đã nhìn nhận rằng Hoa Kỳ ngay từ thủa ban đầu “đã nối kết nguyên tắc của chính quyền dân sự với những nguyên bất khả phân ly của Kito giáo”.Luật tối cao là luật Hiến Pháp đến từ luật giao ước mà Thiên Chúa đã trao cho Moses từ 3500 năm qua. Đó là thứ giao ước đã làm thành khế ước bất khả hủy diệt Giữa Thiên Chúa và con người, và đó là một HIẾN PHÁP VĨNH CỬU CỦA VŨ TRỤ để làm nên Giao Ước giữa Thiên Chúa và con người, để con người xây dựng cuộc đời và xây dựng xã hội mà sống bên nhau trong thanh bình an lạc và hạnh phúc. Sau cuộc Cách Mạng của Hoa Kỳ vào 1776 thì Giao Ước này trở thành nền móng cho tất cả luật lệ cho VĂN MINH DÂN CHỦ TOÀN CẦU.

ĐÂY LÀ BÀI HỌC LỊCH SỬ VĂN MINH VĨ ĐẠI NHẤT MÀ VIỆT NAM, TRUNG HOA VÀ CÁC NƯỚC Á CHÂU PHẢI HỌC ĐỂ BIẾT MÌNH LÀ AI.

Trong Quốc Dân Đại Hội của Hoa Ký vào ngày 14 tháng 10-1774 đã đem Hiến Chương Tự Do để xây dựng quyền hành đạo đức quốc gia. Những nền tảng luật pháp của Hoa Kỳ xây trên hai nền tảng, đó là LUẬT THIÊN NHIÊN VÀ LUẬT CỦA MẶC KHẢI TRONG THÁNH KINH. James Madison, người cha đẻ ra Hiến Pháo Hoa Kỳ đã tuyên bố:

“Chúng ta đoán chắc rằng trọn vẹn tương lai của nền văn minh Hoa Kỳ, không đặt trên quyền hành của chính quyền, đó là điều không thể được. Chúng ta đoán chắc rằng tương lai của đất nước này…đặt trên khả năng của mỗi chúng ta, và tất cả chúng ta để tự trị, tự chủ, để tự kiểm soát lấy chính mình, để tự giữ vững chúng ta với Ten Commandments of God” mà người Công giáo Việt Nam dịch là 10 ĐIỀU RĂN nên chưa làm sáng tỏ Luật Giao Ước hay Luật Trời (covenant law hay the God’s law)nên Luật Giao Ước tại Việt Nam và Á Châu chưa được thi hành nghiêm chỉnh như một giao kèo mà những người ký kết phải phục tùng theo, nếu họ không muốn vi phạm Luật Trời mà họ đã Giao Ước với Trời. Trong khi tại Mỹ,từ Tổng Thống đến Quốc Hội và Tối Cao Pháp Viện, và tất cả các viên chức chính quyền không một ai dám vi phạm,mà họ đã đem ra thi hành nghiêm chỉnh trong đời sống quốc gia Hoa Kỳ,và đời sống chính trị quốc tế.

Hoa Kỳ là một quốc gia đặt trọn niềm tin vào Thiên Chúa (In God we trust) và Hoa Kỳ cho rằng quốc gia của họ đặt dưới sự soi sáng, dìu dắt và bảo vệ của Thiên Chúa (A nation under God). Vì thế tất cả các viên chức cao cấp của chính quyền như trong các cuộc họp của Tối Cao Pháp Viện, tất cả đề đòi hỏi phải nói, “Xin Thiên Chúa cứu chữa Hoa Ký và cứu vớt danh dự của Tòa Án Tối Cao này (God saves the United States and honorable court).

Cả lưỡng viện Quốc Hội mở đầu bưổi họp bằng lời cầu nguyện. Tất cả các Tổng Thống Hoa Ký phải đặt tay trên Thánh Kinh để thề khi họ nhậm chức.

Tổng Thống Washington đã cất lời cầu nguyện của ông: “Lạy Thiên Chúa toàn năng, chúng con khẩn khỏan cầu xin Chúa luôn ban cho quốc gia Hoa Ký với sự che chở thánh thiện của Thiên Chúa: rằng điều Thiên Chúa muốn luôn luôn được cưu mang trong tâm hồn của người dân để họ có sự phục tùng và tuân giữ đường lối của chính quyền và duy trì tình huynh đệ và tình yêu thương với nhau.

Và sau cùng Thiên Chúa với lòng nhân từ thúc đẩy tất cả chúng con thực thi công lý, với tình yêu thương và lòng nhân từ, khiêm cung tự hạ mình chúng con xuống với lòng bác ái và khiêm nhường, với tấm lòng từ ái khoan hòa như bản tính của Đấng Cai Quản Vũ Trụ mà tôn giáo của chúng con thờ lạy. Không có một hình ảnh khiêm nhường để thành một mẫu mực với những điều như thế thì không bao giờ thành một quốc gia hạnh phúc được

Cầu xin Chúa ban phước cho chúng con---qua Chúa Kito Chúa chúng con.

Muốn hiểu rõ Luật Giao Ước đã được Hoa Kỳ thi hành ra sao trên tầm mức toàn cầu thì nên lắng nghe Tổng Thống Eisenhower cầu nguyện khi ông nhậm chức sau đệ II Thế Chiến:

“Lạy Thiên Chúa Toàn Năng, chúng con đứng đây trong giây phút này, sự hiệp nhất tương lai trong ngành hành pháp của chính quyền là nắm tay với chúng con để cùng nhau nguyện xin rằng, xin Thiên Chúa (Trời) nhận nơi đây sự dâng hiến trọn vẹn tâm hồn và trí tuệ của chúng con cho việc phục vụ người dân Hoa Kỳ, và phục vụ anh em đồng loại trên khắp thế giới. Chúng con cầu xin Chúa ban cho chúng con khả năng để nhìn thấy rõ ràng sáng tỏ, đâu là điều đúng và đâu là điều sai và cho phép những việc làm của chúng con và những hành động của chúng con khi cai trị đất nước này bằng luật lệ tối cao của quốc gia, đặc biệt chúng con cầu xin về những ưu tư lo lắng của chúng con là lo cho tất cả người dân, không phân biệt địa vị, chủng tộc cùng nhau đi đến sự hợp tác để cùng hướng tới mục tiêu chung mà những điều khoản luật pháp đã qui định, và những ai có quan điểm khác nhau sẽ bắt tay hợp tác với nhau để phục vụ đất nước yêu dấu của chúng con và phục vụ Hào Quang của Chúa”

Đứng trước nền văn minh phản đạo(apostate religion) của Âu Châu từ thời phục hưng đến nay,Toynbee đã phê phán và khuyên nhủ: “ Văn minh Tây Phương phải tránh đi sự hủy diệt sẽ diễn ra bằng cách trở lại với gia sản Kito giáo của mình trong tinh thần ăn năn hối lỗi,và sống trong sự khiêm tốn…Kito giáo đã đem đến cho Tây Phương một sự thành đạt vĩ đại---qua Thiên Chúa để đứng lên hành động không chỉ cho Tây Phương mà cho tất cả nhân loại…Tôn giáo chân chính và cao cả đã giải phóng con người thoát khỏi tù ngục lao lung trong đời sống xã hội mà họ đã thừa hưởng từ tổ tiên của họ,đó là điều đã đưa đến sự hiểu về trời đất, sư hiểu biết về lịch sử, từ đó đời sống tâm linh và tinh thần được phát triển để con người sống hòa đồng với trời đất trong niềm sung sướng hạnh phúc “.