Ai quyết định Ngoại trưởng Minh đi Mỹ?

Tiến sĩ Phạm Chí Dũng


Cuộc gặp liên ngoại trưởng Phạm Bình Minh - John Kerry ở Washington vào đầu tháng 10/2014 đã an bài. Kết quả không đến nỗi tệ: sau nhiều năm bị cấm vận, Việt Nam được Hoa Kỳ dỡ bỏ một phần cơ chế mua vũ khí sát thương.

Cũng sau 7 năm tính từ thời điểm gia nhập WTO 2007, mới có một bộ trưởng ngoại giao Việt Nam mang về cho nước nhà tấm huy chương “thành tích đàm phán song phương” có chút dư vị với người Mỹ.

Tuy thế, chút dư âm còn lại mà người ta muốn biết là làm sao ông Phạm Bình Minh đến được Hoa Kỳ, trong khi cách đây không lâu chuyến đi của ủy viên trung ương đảng này còn bị hoãn lại chưa biết đến khi nào.

Đi sau đảng


Đáng lý, ông Phạm Bình Minh đã được “về nhà” từ tháng 6/2014 khi nhận lời mời trực tiếp của Ngoại trưởng John Kerry, ngay sau vụ giàn khoan Hải Dương 981 của Trung Quốc tiến chiếm Biển Đông. Nghe nói chuyến khởi hành hụt này đã được sắp lịch và ngoại trưởng Việt Nam đã chuẩn bị hành lý, chỉ còn chờ lên xe ra sân bay Nội Bài.

Thế nhưng cũng nghe nói có một yêu cầu kín đáo nào đó khiến ông không thể dứt áo ra đi được. Thay vào đó, ông Minh lại phải dự tiếp Dương Khiết Trì là ủy viên quốc vụ viện Trung Hoa ở Hà Nội, hoặc tiếp xúc căng cứng và chán ngắt với bộ trưởng ngoại giao Trung Quốc là Vương Nghị mà giới blogger mô tả “những đôi mắt mang hình viên đạn”.

Bất chấp sự có mặt đột xuất ở Hà Nội của hai thượng nghị sĩ John McCain và Whitehouse, cùng sau đó là Chủ tịch hội đồng tham mưu trưởng liên quân Hoa Kỳ Ma.rtin Dempsey, vai trò của Trung Quốc đã lấy lại thế lấn lướt kể từ thời điểm Dương Khiết Trì sang Việt Nam “vấn an” những người có cùng ý thức hệ

Chỉ vào cuối tháng 9, đầu tháng 10/2014, vai trò của ông Phạm Bình Minh mới thực sự phần nào có ý nghĩa, ít ra cũng trên danh nghĩa khi được Bộ chính trị chấp thuận cho đàm phán song phương với Hoa Kỳ.

Nhưng ngay trước chuyến “về nhà”, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Ngoại giao Phạm Bình Minh lại “phải” tham dự hai sự kiện ở Quảng Tây vào trung tuần tháng 9/2014 nhằm “thúc đẩy hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc”. Chuyến “Bắc du” này diễn ra chỉ ít ngày sau chuyến công du Bắc Kinh gây tranh luận đặc biệt của “Đặc phái viên Tổng bí thư” Lê Hồng Anh.

Hệ quả nối tiếp nhau của những chuyến công du hướng Bắc và sang Tây có thể coi là rõ mồn một.

Sự thể đó càng có vẻ “minh bạch” hơn bằng vào cá tính thích trưng bày thể diện của những người bên đảng. Gần như cùng lúc với sự có mặt ở Washington của ông Phạm Bình Minh, một phái đoàn của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng xuất hiện ở Hàn Quốc, với kết quả đặc biệt nhất sau 21 phát đại bác là phía Việt Nam đã đồng thuận với Hàn Quốc trong tuyên bố chung về “không chấp nhận” (có người dịch là “không dung thứ”) việc CHDCND Triều Tiên leo thang vũ khí hạt nhân và đe dọa nền hòa bình quốc tế.

Cùng lúc, những tờ báo đảng như Quân Đội Nhân Dân bắt đầu hy vọng về “niềm tin đối tác hợp tác chiến lược” giữa Việt Nam với một quốc gia đồng minh quân sự truyền thống của Mỹ là Hàn Quốc. Ngược lại, bình diện ngoại giao Việt Nam - Triều Tiên đang có nguy cơ bị “đảo chính”.

Đảng đang quyết định


Việc gia tăng quan hệ với Mỹ cũng làm cho những người bên chính phủ cảm thấy hài lòng hơn, tuy có thể còn ít ỏi so với tham vọng “Mỹ tiến” của họ.

Có thể hiểu, chuyến đi Hoa Kỳ của một quan chức cao cấp của Chính phủ như ông Phạm Bình Minh là do “đảng chỉ đạo” và nằm trong đường hướng cùng lộ trình hòa dịu quan hệ Việt - Mỹ, thậm chí còn mang hơi hướng mong ngóng đến một mối liên minh quân sự Việt - Mỹ trong tương lai, để tránh mũi lao phóng xuống từ Trung Quốc.

Nhìn lại, có thể nhận ra việc ông Phạm Bình Minh đã chỉ đến Washington sau khi một người cùng họ nhưng có cấp bậc trong đảng cao hơn hẳn ông - ủy viên bộ chính trị - đi Hoa Thịnh Đốn vào cuối tháng 7/2014.

Nhiều khả năng, quyết định công du cho ông Phạm Bình Minh không hẳn do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng một mình quyết định. Sự thể này là khác khá nhiều với thời gian cuối năm 2013, khi ông Nguyễn Tấn Dũng một mình đi New York để bàn về TPP và “quy chế thị trường đầy đủ” cho Việt Nam.

Tương quan so le về quan hệ đối ngoại như thế cũng phần nào phản ánh cục diện có vẻ bất cân xứng về đối nội hiện nay giữa Chính phủ và những người bên đảng.

Tuy thế, cũng có thể hiểu là mặc dù không chiếm thế thượng phong, nếu không nói là ngược lại, trong các cuộc tiếp xúc song phương Việt - Mỹ từ tháng 7/2014 đến nay, việc gia tăng quan hệ với Mỹ cũng làm cho những người bên chính phủ cảm thấy hài lòng hơn, tuy có thể còn ít ỏi so với tham vọng “Mỹ tiến” của họ.

Câu hỏi trước mắt là với những nước cờ có tính gia tốc của khối đảng từ tháng 7/2014 đến nay, liệu phía chính phủ có dự liệu những quyết sách và cú nhảy nước rút nào để ít nhất trung hòa trạng thái win win – chúng ta cùng thắng?