Muốn thoát Trung cộng phải thoát mọi chế độ độc tài

Nam Nguyên



Sự kiện giàn khoan HD 981 và viễn ảnh lệ thuộc Trung Quốc như một chư hầu khiến cho giới trí thức Việt Nam đặt vấn đề “thoát Trung”. Câu hỏi đặt ra Việt Nam có thể thoát khỏi ảnh hưởng Trung Quốc mà vẫn duy trì ý thức hệ Cộng sản hay không. Nam Nguyên ghi nhận một số ý kiến liên quan.

Giải Cộng


Đặt vấn đề muốn thoát Trung phải giải Cộng như một điều kiện tiên quyết, thì dễ thấy mục tiêu này có khoảng cách khá xa với thực tại. Nhưng các sử gia đã dẫn chứng những trường hợp thoát Cộng, từ bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa đã nhiều lần diễn ra trên thế giới. Điển hình là sự sụp đổ Liên bang Xô viết năm 1991, khi tình hình còn chưa ngã ngũ thì một số nước Cộng hòa, từng bị ép đi theo con đường Cộng sản đã nhanh chóng tuyên bố độc lập và sau đó người dân bầu chọn chế độ chính trị dân chủ đa đảng. Sự từ bỏ chủ nghĩa Cộng sản đã hoàn tất ở tất cả 15 nước Cộng hòa thuộc Liên bang Xô viết, kể cả Liên bang Nga.

Nếu Liên Xô cái nôi của chủ nghĩa Cộng sản phải mất 70 năm mới tan rã thì Campuchia lại khác, Xứ Chùa Tháp bị nhuộm đỏ nhanh chóng sau năm 1975 và cũng nhanh chóng thoát Cộng trong vòng 15 năm. Cho nên đối với những ai dị ứng với chế độ Cộng sản, vấn đề giải Cộng ở Việt Nam cũng không phải là chuyện viễn tưởng.

Theo tôi, về lâu về dài không có con đường nào khác phải thoát khỏi chế độ toàn trị này, xây dựng một chế độ dân chủ thực sự trong đó có đa nguyên đa đảng, đảm bảo các quyền con người và chỉ có trên cơ sở ấy thì mới có cơ hội để thoát ra những cái ràng buộc với Trung Quốc

Trò chuyện với chúng tôi, TS Nguyễn Quang A thuộc nhóm chủ trương Diễn đàn Xã hội Dân sự từ Hà Nội trình bày ý kiến của ông:

“Tôi nghĩ rằng, thoát khỏi Trung Quốc là một vấn đề rất bức thiết. Nhưng cũng là một vấn đề không thể vội vàng làm ào ào được. Theo tôi, về lâu về dài không có con đường nào khác phải thoát khỏi chế độ toàn trị này, xây dựng một chế độ dân chủ thực sự trong đó có đa nguyên đa đảng, đảm bảo các quyền con người và chỉ có trên cơ sở ấy thì mới có cơ hội để thoát ra những cái ràng buộc với Trung Quốc và những ảnh hưởng không có lợi của Trung Quốc đối với Việt Nam.”

Tuy vậy, TS Nguyễn Quang A nhấn mạnh rằng người Việt Nam cần hết sức thận trọng, tránh bài học thoát Cộng nhưng vẫn không thoát độc tài. Ông nói:

“Người ta nói rằng phải thoát Cộng, tôi cũng đồng ý như thế nhưng cái đó chỉ mới là một nửa thôi. Có thể không có Cộng sản nhưng mà lại có một chế độc độc tài khác, một đất nước không thể phát triển được trên cơ sở chế độ độc tài. Cho nên tôi nghĩ rằng phải thoát cái gọi là toàn trị, thoát cái độc tài và đấy là một quá trình không thể ngày một ngày hai. Tôi nghĩ là không có biện pháp nào nói rằng ngày mai, hay hai năm nữa, hay sáu tháng nữa mà có thể đạt được. Bởi vì nếu mà còn một chế độ độc tài như thế này, thì thực sự Việt Nam không có bạn, trơ trọi và như thế khó mà có thể vươn lên được và có thể có mối quan hệ bình thường giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc được.”

Cũng có những ý kiến quan ngại sự giải Cộng hay xóa bỏ chế độ Xã hội Chủ nghĩa hiện nay ở Việt Nam sẽ có xáo trộn rất lớn. Hơn nữa không phải người dân Việt Nam nào cũng muốn giải cộng, giải tán chế độ hiện tại. Luồng ý kiến này lập luận rằng Việt Nam hiện có 3,6 triệu đảng viên cộng sản, mỗi gia đình trung bình 4 người, kéo theo họ hàng quyến thuộc và những kẻ ăn theo, tổng số người chịu ảnh hưởng quyền lợi nhờ chế độ Cộng sản hiện nay có thể lên tới mười mấy, hai chục triệu người. Thật ra để biết được người dân Việt Nam thực sự nghĩ gì, mong muốn gì đối với việc lựa chọn thể chế chính trị thì có lẽ phải có một cuộc trưng cầu dân ý được tổ chức nghiêm túc. Đây là điều Đảng Cộng sản Việt Nam không muốn phải đối mặt, do vậy mà mấy chục năm Quốc hội Việt Nam không hình thành được Luật Trưng cầu Dân ý hay Luật Biểu tình. Dù bản Hiến pháp nào của Việt Nam cũng đều có qui định các quyền công dân này.

Thoát Trung?


Đáp câu hỏi của chúng tôi là để thoát khỏi ảnh hưởng của Trung Quốc rất nặng nề cả về chính trị và kinh tế, có ý kiến cho là Việt Nam phải cải tổ để có một chế độ dân chủ thực sự thì mới có thể không còn ngán ngại trong việc bảo vệ chủ quyền. TS Trần Đình Bá, thành viên Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam từ Hà Nội nhận định:

Tình hình bây giờ khác với thời kỳ 1979....Ngay bây giờ, thí dụ TQ mà xâm lược Việt Nam ở trên bộ thì người dân VN sẽ đoàn kết lại bất kể Chính phủ như thế nào. Chuyện ấy đụng tới vấn đề xâm lược, nhưng mà như thế không có nghĩa là thoát Trung. Sau năm 1979, thì đâu có thoát.

“ Không, theo tôi không cần thiết. Tôi nghĩ bây giờ ở các cơ chế đa phương, các quốc gia đều được tự do bình đẳng về quyền lợi quốc tế của mình, tất cả các hiệp định của quốc tế. Tôi nghĩ mỗi quốc gia có thể chế riêng của mình không sao cả, các nước ASEAN cũng thế thôi.”

Nhà nước Cộng sản Việt Nam trong quá khứ là đồng chí môi hở răng lạnh với Trung Quốc và nhận viện trợ về vũ khí và nhân sự rất lớn từ Trung Quốc. Thế nhưng sau khi Bắc Việt Cộng sản chiến thắng thống nhất đất nước thì đến năm 1979 thì Trung Quốc lại mở cuộc tấn công xâm lăng, gây ra cuộc chiến khốc liệt ở biên giới Việt-Trung.

Với ý kiến cho rằng, nước Việt Nam độc tài đảng trị nhưng vẫn đẩy lùi được quân xâm lược Trung Quốc bảo vệ chủ quyền vào năm 1979. Tình hình lấn chiếm hiện nay qua vụ giàn khoan HD 981 có thể xem là lịch sb

“ Tôi nghĩ tình hình bây giờ khác với thời kỳ 1979 và lúc ấy Trung Quốc xâm lược ở trên bộ, còn bây giờ ở xa ngoài biển và chuyện đó khác xa. Ngay bây giờ, thí dụ Trung Quốc mà xâm lược Việt Nam ở trên bộ thì người dân Việt Nam sẽ đoàn kết lại bất kể Chính phủ như thế nào. Chuyện ấy đụng tới vấn đề xâm lược, nhưng mà như thế không có nghĩa là thoát Trung. Sau năm 1979, thì đâu có thoát mà ảnh hưởng Trung Quốc từ xa xưa lắm rồi và tôi nghĩ không thể có một biện pháp đơn giản nào để làm việc này có kết quả ngay lập tức.”

Thoát Trung mà phải từ bỏ xã hội chủ nghĩa, từ bỏ vai trò lãnh đạo toàn diện Việt Nam chắc chắn không phải chọn lựa của Bộ Chính trị Trung ương Đảng Cộng sản. Nhà nước sẽ làm gì để thoát khỏi ảnh hưởng lệ thuộc Trung Quốc. Người dân Việt Nam rất mong muốn được thông tin về vấn đề này.

Thái độ và hành động đáng ngờ.


Trong con mắt của những người dân Việt Nam mộc mạc vốn thừa mứa lòng tin, người ta sẽ nghĩ rằng sau cuộc khốc liệt 1979 trên toàn tuyến biên giới, Việt Nam thấm đòn đau từ anh bạn láng giềng to xác quen ăn hiếp và bắt nạt thì tưởng như sẽ không bao giờ có thể ngoái đầu quay lại với những kẻ thù tàn bạo, quay quắt mà chính họ đã nguyền rủa. Thế nhưng cả dân tộc không ngờ, cả dân tộc đã bị dồn vào một khúc quanh đau đớn nhất của lịch sử: Giai đoạn nô lệ ngoại bang.

Theo dõi thái độ và cách hành động của nhà cầm quyền Việt Nam mấy năm nay với chủ đề lãnh thổ của Tổ Quốc, nhất là thái độ với bọn bá quyền cướp nước, có lúc thăng, lúc trầm, nhưng tất cả đều nhất quán và không có mấy thay đổi. Đường lối, cách nghĩ của đảng CS vẫn thế, tất cả đều đi đúng một định hướng đã vạch sẵn: Lấy thù làm bạn, hèn với giặc, ác với dân.

Thông thường, một chính phủ, một nhà nước, một đảng lãnh đạo xã hội, luôn lấy sự an nguy của quốc gia, an ninh của dân chúng, bảo toàn lãnh thổ của đất nước làm trọng, mọi nhân tài, vật lực đều được ưu tiên tập trung cho những nhiệm vụ chính yếu đó. Thế nhưng, riêng ở Việt Nam, mọi điều đã được thực hiện ngược lại.

Nhà nước không dùng quân đội để bảo vệ lãnh thổ, bảo vệ nhân dân mà người ta quy định rằng trước hết, quân đội phải bảo vệ Đảng. Rồi mặc cho dân bị kẻ thù, bị ngoại bang giết chết trên đất nước, quân đội được huy động đi cướp đất của dân và luyện tập để “chống diễn biến hòa bình”. Thậm chí, người đứng đầu quân đội luôn miệng gọi kẻ thù là đồng chí, tỏ rõ sự hàm ơn nặng nề kẻ thù của đất nước, ngay cả khi kẻ thù đã và đang xâm chiếm lãnh thổ.

Nhà nước bơm phình lực lượng công an không với mục đích phục vụ nhân dân, mà họ huỵch toẹt thách thức là “còn đảng, còn mình”. Hẳn nhiên họ không nhắc lực lượng này rằng người nuôi họ là dân.Lực lượng này được huy động đàn áp, canh giữ, bắt bớ và gây sự với những người có mầm mống tư tưởng yêu nước. nhà nước bỏ tù những tiếng nói can đảm, dám thể hiện lòng yêu nước, thương nòi của mình.

Họ tạo ra một thế hệ vô cảm với những điều thiêng liêng nhất, ngộ độc thông tin nặng nề nhất, thậm chí dùng đám hồng vệ binh đó đi đàn áp, khủng bố những người yêu nước.

Kết quả là lòng yêu nước bị dập tắt, tinh thần yêu nước bị đánh tan tác và hạ xuống đến mức thấp chưa từng có.

Hoảng loạn, lúng túng.


Có thể nói, kể từ khi người Cộng sản Việt Nam cướp quyền lãnh đạo đất nước này đến nay, cái gọi là “độc lập” đúng nghĩa chưa bao giờ xuất hiện. Việt Nam luôn kêu gào “độc lập, tự do” nhưng thực tế thì hết đu bám thế lực này lại sang bám thế lực khác.

Nếu như sau Tháng 8/1945 trở đi, khối cộng sản nẩy nở, sinh sôi, những người cộng sản Việt Nam tự nguyện làm một bộ phận “tiền tiêu, tuyến đầu” cho CNCS để tiến hành cuộc chiến Nam – Bắc đẫm máu vì ý thức hệ. Khi đó, trừ vài nước “cộng sản anh em”, còn tất cả đều là “bè lũ đế quốc và bọn phản động, chó săn, sen đầm quốc tế”. Thì đến khi nội bộ khối Cộng sản lục đục chia rẽ nặng nề, những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng tách khỏi anh bạn Trung Cộng để tìm đến Liên Xô là “thành trì của CNXH”. Khi đó, hệ thống truyền thông Việt Nam đã không tiếc bất cứ một lời lẽ, ngôn từ nào dù bẩn thỉu, xấu xa nhất lên án anh chàng Trung Cộng Đại hán đã chệch hướng, lạc đường, phản bội lại “Mác – Lênin chân chính”.

Thế rồi, cuộc chiến 1979 trên biên giới Việt – Trung đã thể hiện sự cạn nghĩa, ráo tình và sự tráo trở của những người cộng sản ra sao. Tưởng từ nay, cái gọi là “môi hở răng lạnh” sẽ không bao giờ được nhắc tới, cái gọi là “anh em, hữu nghị, láng giềng” đối với Trung Cộng sẽ vĩnh viễn biến mất trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội khi vẫn còn người Cộng sản Việt Nam cai trị đất nước.

Nhưng, trớ trêu thay, vật đổi sao dời. Những biến động của Đông Âu về sự sụp đổ hàng loạt khối cộng sản mà không một thế lực nào đỡ nổi như một quy luật. Cái bức tường, cột trụ mà những người cộng sản Việt Nam tưởng rằng luôn bền vững, chắc chắn bỗng chốc sụp xuống nhanh chóng không ngờ. Thế là từ đó, bỗng chốc cái thần thái độc lập, tự chủ và sự tự tin “bách chiến, bách thắng” của những người Cộng sản Việt Nam nhanh chóng bay biến.

Và họ hoảng loạn thật sự.


Theo đúng nguyên lý của Chủ nghĩa Mác – Lenin thì “giai cấp thống trị không bao giờ để mất quyền thống trị của mình, nếu không có bạo lực cách mạng”. Vì thế, họ đã ra sức để bằng mọi cách củng cố, bám giữ lấy chiếc ghế cai trị của mình.

Một trong những cách đó là đổi thù thành bạn, tất nhiên chỉ là bạn của Đảng, còn với cả đất nước này thì kẻ xâm lược truyền kiếp kia chẳng bao giờ thay đổi bản chất và quan hệ.Rồi Hội nghị Thành Đô, (một hành động chính trị lén lút mới được bạch hóa gần đây) đã diễn ra trong hoàn cảnh đó.

Kể từ đó, đất nước ta bước vào một ngã rẽ đầy sự tăm tối, từng bước, từng bước đi vào vòng nô lệ theo “đúng quy trình”.

Hành động có hệ thống và màn diễn đẫm máu.


Cho đến gần đây, nhà nước Việt Nam mới công nhận một số điều mà người dân đã bàn tán bao năm nay về quan hệ Việt – Trung. Năm 1958, Phạm Văn Đồng trên cương vị Thủ tướng có công hàm gửi Trung Cộng, công nhận Tuyên bố về lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong đó bao gồm cả quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam mà Trung Cộng gọi là Tây Sa và Nam Sa.

Khi bọn bá quyền Trung Cộng dùng vũ lực xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa, chính phủ Bắc Việt đã không hề mở miệng hé răng.

Năm 1988, bọn bá quyền Trung Cộng dùng quân đội tiếp tục dùng vũ lực chiếm đóng một phần Quần đảo Trường Sa, hàng loạt chiến sĩ bỏ mạng trên biển, người dân Việt Nam không được thông tin về sự hy sinh của họ. Việc mất một số đảo của Tổ Quốc được im lặng như một món quà cho bọn bành trướng để để đi đến Hội nghị Thành Đô sau đó.

Ngày 3-4/9/1990, Hội nghị Thành Đô bí mật diễn ra, mở đầu một thời kỳ đau đớn cho đất nước. Những người cộng sản đã mua bán, đổi chác sinh mệnh dân tộc bằng hội nghị bí mật này.


Năm 1999, Hiệp định Biên giới Việt Trung mờ ám được bí mật ký kết. Tất cả những ai lưu tâm, tò mò đến bản hiệp định này đều trở thành thế lực thù địch của Đảng và nhà nước Cộng sản. Nhiều người đã nếm mùi tù đày, lao lý bởi cái Hiệp định này. Kết quả là hàng loạt vấn đề mất đất, mất lãnh thổ trên biên giới đã không được giải đáp thỏa đáng.

Từ năm 2000 trở lại đây, Trung Cộng gia tăng các hành động cướp bóc, lấn chiếm ngang ngược trên biển, Đảng và nhà nước Việt Nam có những hành động “hèn hạ vĩ đại” trước quân giặc ngày càng hung hăng. Trên đất liền, những nơi trọng yếu, các công trình trọng điểm đều có mặt người Trung Quốc.

Đặc biệt là việc gia tăng bắt bớ, giam cầm, đàn áp trắng trợn những người yêu nước, thương nòi. Có lẽ trong lịch sử dân tộc ta, chưa có giai đoạn nào những người yêu nước phải đau đớn như giai đoạn hiện nay.

Dưới sự lãnh đạo “tuyệt đối, tài tình và sáng suốt” của đảng Cộng sản Việt Nam, sau 70 năm, đất nước Việt Nam đã và đang dần dần lún sâu vào cơn khủng hoảng, khốn đốn về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa… Vị thế của đảng Cộng sản chìm sâu trong những cơn oán thán, trong những câu chuyện bi, hài của người dân và qua từng hành động khó hiểu, bất nhất, lời nói ngô nghê của lãnh đạo, của hàng ngũ quan chức. Vị thế của Việt Nam trên con mắt quốc tế sa sút đến thảm hại.

Đúng lúc đó, anh bạn vàng khổng lồ của Đảng gia tăng những hành động xâm lăng, cướp bóc trắng trợn lãnh thổ Việt Nam.

Máu dân Việt đã đổ, mạng người dân đã mất trên chính lãnh thổ mình. Mưu đồ xâm lược bấy lâu nay đã thêm một bước được thể hiện một cách trắng trợn và ngang ngược, bất chấp mọi lý lẽ, mọi thứ “tình hữu nghị” được bôi trát bằng bộ mặt giả nhân giả nghĩa bấy lâu nay. Nhà cầm quyền Trung Cộng đã từng bước thể hiện bản chất cướp bóc hung bạo là sản phẩm kết hợp giữa chủ nghĩa bành trướng đầy tham vọng và sự tàn bạo không giới hạn của Chủ nghĩa Cộng sản trong chiến lược xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam.

Tưởng như vậy là giới hạn cuối cùng, một đảng luôn tự ca ngợi mình là “thiên tài, là vô địch là tinh hoa của dân tộc, là đội quân tiên phong của đất nước” đã bước nốt những bước cuối cùng của sự bi đát và sẽ tỉnh ngộ để sớm từ bỏ cái tư tưởng hão huyền và hãi hùng Mác – Lênin để trở về phục vụ nhân dân và đất nước.

Nhưng không. Sau khi những hành động xâm lược của Trung Cộng bằng giàn khoan và tàu chiến trên biển, người ta thấy gì?


Những cuộc biểu tình yêu nước trên cả đất nước bừng lên, để rồi bị dẹp tan với những lý do rất Chí Phèo, người yêu nước lại tiếp tục ngậm ngùi uất hận.

Tại Philippines ông Thủ tướng nói vài câu mạnh mẽ, thì lập tức tại Shangri-La Bộ Trưởng Quốc phòng dội ngay một giáo nước lạnh vào mặt quan khách toàn thế giới và nhất là 90 triệu người dân Việt Nam, bằng những lập luận ngô nghê khi gửi thông điệp đến kẻ thù xin “hữu nghị”. Không chỉ là đập thẳng vào miệng Thủ tướng mà thể hiện thái độ của một đội quân “bách chiến, bách thắng” hiện nay đang sẵn sàng chiến đấu ở mức độ nào.

Trước một kẻ thù hung hãn, đầy vũ khí trong tay và sự tàn bạo thể hiện trong từng hành động trên thực tế, việc một Bộ Trưởng Quốc phòng nêu quyết tâm “không để xung đột xảy ra’ chỉ có thể coi là hành động bó gối xin hàng. Ngay cả hàng mấy chục cuộc điện thoại gọi sang Trung Cộng không thèm trả lời mà đòi “hữu nghị” thì chưa rõ hệ thống thần kinh của quan chức Việt Nam đã đến tình trạng nào?

Ông Tổng Bí thư Đảng, người nắm chức Chủ tịch Quân ủy Trung ương thì lặn mất tăm, đến mức người dân phải nhắn tin tìm kiếm trên mạng. Trong khi cả hệ thống cầm quyền, công an luôn miệng rằng “đã có đảng và nhà nước lo” thì giờ lo đến đâu không ai được biết? Nhưng khi ông xuất hiện thì chỉ bàn về “Văn hóa”. Thật tiếc, có lẽ cái văn hóa mà ông bàn đến không có bao gồm vấn đề ứng xử của kẻ có trách nhiệm như thế nào?

Nhưng có những điều lạ xuất hiện hiện nay:


Báo chí sau bao năm bị cấm ngặt không được đụng tới biển đảo, nay mở hết công suất về biển đảo, góp tiền, góp gạo cho Trường Sa… hết chương trình này đến chương trình khác, cứ như xưa nay Việt Nam chưa bao giờ tồn tại, nay mới xuất hiện thêm biển và đảo vậy.

Quân đội đã thề nguyền là sẽ không bao giờ động binh với anh bạn vàng của đảng để giữ tình hữu nghị. Ông Thứ trưởng Bộ Quốc Phòng chỉ biết lẩm bẩm: “Anh là ai? Sao vật ngửa thuyền tôi ra” và vẫn là “Tình hữu nghị Việt – Trung bền vững đời đời”…

Nhưng trên biển với lúc nhúc súng đạn kẻ thù, tàu chiến nườm nượp, đảng và nhà nước kêu gọi đẩy công dân tay không ra bám biển, giữ đảo. Thế là bao mạng người lại nằm xuống biển khơi.

Thật đau đớn và hài hước.


Những sự tréo ngoe đó đã nói lên điều gì? Tại sao trước một kẻ thù hung hãn với ý đồ xâm lược rõ ràng, bộ máy CSVN lại hành động khi trống đánh xuôi thì lập tức có kèn thổi ngược?

Điều đó chỉ có thể giải thích một điều cần giấu kín. Rằng khi tất cả biển đảo của Việt Nam đã rơi vào tay giặc theo “đúng qui trình”, thì nhà nước Việt Nam vẫn vô tội trước mắt người dân, đã “làm hết khả năng mình, đã phản đối nhưng kẻ thù quá mạnh, quá nguy hiểm nên lực bất tòng tâm”. Nghĩa là lỗi không nằm ở nhà nước mà nằm trong tay nhân dân và kẻ thù. Và để an dân, thì nhà nước lại học ông Phó thủ tướng Vũ Đức Đam mà rằng: “Đời chúng ta chưa đòi được thì đời con đời cháu chúng ta sẽ đòi cho bằng được”.

Và cứ vậy, người dân cứ phải chấp nhận tính mạng bị đe dọa, Tổ quốc phải chấp nhận mất biển đảo vào tay giặc, dân tộc chấp nhận một giai đoạn nô lệ kiểu mới.

Và màn diễn sẽ kết thúc ở đó còn Đảng thì vẫn quang vinh để kiên định con đường đi lên CNXH với người anh em 16 chữ vàng và 4 tốt.

Đó là màn diễn quá độc ác và tàn nhẫn đối với nhân dân.