Phải chăng có ngày 30/04 vì có những người cầm "c… cho chó đái"?

Nguyễn Thị Cỏ May

30/04



Ngày nay, sau gần 70 năm, người do thái vẫn thường xuyên nhắc nhở, hâm nóng lại, có lúc liên tục hằng tháng, hằng tuần như sự việc mới xảy ra ngày hôm qua, cái thảm nạn hơn 5 triệu người do thái ở Âu châu bị Đức Quốc xã tiêu diệt. Họ dùng từ ngữ do thái " shoah " để chỉ cái thảm nạn " diệt chủng " do Quốc xã gây ra. Và từ ngữ " tội diệt chủng " lần đầu tiên được Tòa án Nhơn quyền ở Nuremberg, Đức, ban hành.

Ảnh hưởng của sự lên án Đức quốc xã rất lớn, rất mạnh làm cho ở Âu châu, ngày nay, không ai dám biểu hiện một quan hệ gần xa với phong trào đức quốc xã hết cả.

Cộng đồng người do thái làm được chuyện này vì truyền thông nằm trong tay họ và một số lớn những nhà khoa học, chánh trị, tài chánh trên thế giới gốc do thái còn biết thương nước, tuy không sống trên đất nước, ảnh hưởng mạnh lên chánh phủ các nước nơi họ sinh sống. Cộng đồng người việt nam hải ngoại không có những điều kiện đó.

Chúng ta là cộng đồng non trẻ, lần đầu tiên sinh sống ở hải ngoại, mỗi năm còn nhớ nhắc nhở với nhau ngày đau thương 30/04 đã là một việc làm quan trọng, có ý nghĩa lớn rồi. Nhưng Ngày 30/04 chỉ tác động ở những người là nạn nhân trực tiếp, không đủ nội hàm để tác động những người Việt Nam ở thế hệ sau và người ngoại quốc. Trái lại tiếng “Shoah” có nội dung nhạy cảm hơn với những người đọc nó, nghe tới nó, vì nó mang đủ ý nghĩa tố cáo trước dư luận tội chống nhơn loại của Đức quốc xã. Thật ra, Ngày 30/04 cũng mang cùng ý nghĩa “shoah” là sát hại, thanh toán cho tiêu vong một bộ phận lớn của dân tộc việt nam mà cộng sản hà nội không thừa nhận từ bản chất. Ngày 30/04 là thứ “génocide”, tội chống nhơn loại, nhưng nó chỉ tác động ở những người biết «30/04» blà gì. Tự nó, ”30/04” không đủ tố cáo tội ác cộng sản từ đó, trước đó, cho tới nay. Đức quốc xã tàn bạo nhưng đối với người ngoại quốc. Cộng sản hà nội gian ác, thâm độc đối với chính đồng bào của họ. Đặc tính tội phạm của đảng cộng sản hà nội mới trầm trọng hơn Đức Quốc xã. Hơn thế nữa, họ còn hợp tác với ngoại bang để sát hại đồng bào của họ nữa.

Vì cái ý nghĩa bị gắn chặt với lịch sử mà lịch sử lại bị bóp méo theo chánh sách tuyên truyền của chế độ nên ở trong nước, người dân ngày nay vẫn quen nói, một cách tự nhiên, ngày " giải phóng", tức ngày 30/04, để nhắc lại một móc thời gian. Như " hồi mới giải phóng ", "sau ngày giải phóng,....". Thậm chí, không ít người Việt Nam ở hải ngoại cũng có thói quên ngôn ngữ đó. Như vậy họ chưa ý thức được thân phận của họ, chưa thấy thương cảm đồng bào nạn nhơn do ngày 30/04 gây ra và chưa thấy cộng sản là kẻ gây ra thảm nạn dân tộc ngày nay.

Ngày 30/04 là ngày chiến thắng trọn vẹn riêng của đảng cộng sản Hà nội vì chiếm được Miền nam Việt nam và là ngày đau thương lớn của dân tộc. Hà nội thắng, không phải do quân đội của họ mạnh mà do sự tiếp tay của một thành phần không nhỏ của Miền nam. Quan trọng là nhóm trí thức ưu tú miền nam đã ảnh hưởng mạnh quần chúng do Việt nam có một hoàn cảnh lịch sử khá phức tạp do thực dân Pháp để lại.

Trí thức Sài gòn lần lượt vào mật khu


Trưa ngày 30/04, sau khi Dương văn Minh, Tổng thống thừa tự của Việt nam Cộng Hòa, kêu gọi quân đội buông súng chờ lịnh bàn giao, đoàn quân giải phóng ngơ ngác kéo vào Thủ đô với quân phục rất “bộ đội”, đầu đội nón tai bèo, chân mang dép râu, với cờ Mặt trận sao vàng, nửa đỏ nửa xanh. Đi theo họ là Mặt trận Giải phóng Miền nam và Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng Hòa Miền nam. Tức với toàn bộ một thực thể chánh trị được 23 nước thuộc phe xã hội chủ nghĩa và “thế giới thứ ba” nhìn nhận về quan hệ ngoại giao.

Nhưng Hà nội phải khai tử hai tổ chức này !


Tưởng cũng nên nhắc lại vài sự kiện lịch sử quan trọng : Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam (MTGP) thành lập ngày 20/12/1960. Chánh phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa Miền nam (CPLTCHMN) thành lập ngày 08/06/1969.

Từ sau Hiệp định đình chiến Genève, Miền nam yên ổn nhờ Miền bắc trong cảnh “tang gia bối rối” do cuộc cải cách ruộng đất ”long trời lở đất” gây ra. Sau những đợt sửa sai, thật ra là chiến dịch cải cách ruộng đất đã kết thúc, nội tình miền Bắc lắng dịu. Từ 1958, chế độ Ngô Đình Diệm tập trung củng cố quyền lực quá mạnh, thay vì thực thi một chánh sách đoàn kết “gia đình tình thương” làm cho đám cán binh Vìệt Minh không tập kết, ở lại bám trụ, bắt đầu nổi dậy, xách động những người khác, đi theo kháng chiến chỉ vì lòng yêu nước, không cộng sản, bị ảnh hưởng. Đến lúc, đêm họ bị tập trung ngủ ở đình chùa, trường học để kiểm soát thì họ bắt đầu lo lắng về đời sống gia đình, về an ninh bản thân của họ. Khi Mặt trận Giải phóng Miền nam ra đời, họ gia nhập như tìm một nơi ẩn nấu vì họ vẫn có thể liên lạc với gia đình được.

Khi chế độ Ngô Đình Diệm ngày càng bộc lộ đường lối độc tài thì MTGP càng trở nên lớn mạnh. Khi Mặt trận lôi kéo được nhiều trí thức tên tuổi bỏ Sài gòn đi ra mật khu thì uy tín của Mặt trận lại gia tăng thêm. Như :


* Ông Đốc Nguyễn văn Kiết, (Giáo sư văn chương pháp và làm Hiệu trưởng Trung học, ngày xưa dân chúng quen gọi là Ông Đốc học), ở đường Phan đình Phùng, Sài gòn, sáng ra đi dạy học, chiếc xe Peugeot 203 với tài xế đậu sẵn trước cửa nhà, bà vợ trẻ hơn ông rất nhiều, đẹp, con nhà giàu điền chủ Bạc liêu, xách cặp đem ra để lên băng sau xong, ông mới từ từ bước ra, lên xe ngồi. Bà vợ đóng cửa xe, vẫy tay chào cho xe chạy. Người với phong cách trưởng giả như vậy mà dám bỏ nhà cửa, đời sống sung sướng ở Sài gòn để đi vào rừng làm “giải phóng” thì hẳn phải có cái gì hấp dẫn hơn chứ? Không chỉ có Ông Đốc Kiết, Ông Lâm văn Tết, trí thức tư sản, chống thực dân và chống cộng sản việt minh trước kia, cũng nghe theo tiếng gọi của MTGP …

* Ít lâu sau, Liên Minh các Lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình với Luật sư Trịnh Đình Thảo làm Chủ tịch rút êm ra mật khu thì nhiều người miền nam bắt đầu nghĩ Mặt trận là “ngọn cờ chống độc tài Nhà Ngô và chống ngoại xâm” do sự hiện diện đông đảo cố vấn mỹ ở Miền nam thay vì nhìn thấy những tổ chức này chỉ là công cụ của cộng sản Hà nội và do Hà nội tạo ra.


Những trí thức lớn này dám từ bỏ Sài gòn đí ra mật khu làm nổi lên nhiều phong trào khác thân với Mặt trận, giữ vai trò hoạt động ngoại vi của Mặt trận như Phong trào Dân tộc Tự quyết của Giáo sư Nguyễn Long, Phong trào Bảo vệ Nhân phẩm và Quyền lợi Phụ nữ của Bà Ngô Bá Thành, Ủy ban vận động cải thiện chế độ lao tù gồm nhiều trí thức, nhân sĩ, bLinh mục Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Tổ chức nhân dân đòi thi hành Hiệp định Paris của Luật sư Trần Ngọc Liễng, Phong trào chống đói của Dân biểu Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, nhóm đối lập khuynh tả Tin Sáng, nhóm ký giả nằm vùng ở nhựt báo Tia Sáng,…

Phải nói rõ nếu không có những tổ chức chánh trị uy tín này thì MTGP chỉ gồm toàn những người mặc quần xà lỏn, bám cọng đu đủ không gẫy và Trung ương Cục Miền nam với Lê Duẩn, Nguyễn văn Linh, Phạm Hùng, Võ văn Kiệt, …cũng chỉ là những tên cộng sản răng hô mã tấu, không hia mảo chễm chê trước dân chúng Việt Nam và quốc tế.

Giờ thứ 24 ngày 30/04, Việt nam là Một


Nhưng phải khai tử hai tổ chức này để thống nhứt quyền lực về Hà nội. Nhưng làm sao thanh toán cho trong ấm ngoài êm tuy biết rằng “giải phóng được Miền nam” là do lịnh phát đi từ Chánh trị bộ ở Hà nội và Lê Duẩn là Tổng Bí thư nắm trọn quyền lãnh đạo.

Hơn nữa ai cũng biết chủ trương thành lập MTGP và CPCMLTCHMN là của Lê Duẩn và Bộ Chánh trị. Nhưng lá cờ sao vàng nền nửa đỏ nửa xanh của MTGP đã hơn mười năm làm cho không ít người cả tin, khi giải phóng được Miền nam, sẽ có Chánh phủ ba thành phần và Trung lập. Lời tuyên bố và cương lĩnh của Mặt trận đã hấp dẫn trí thức và thanh niên hưởng ứng.

Thực tế thì mọi việc đều do Ban Bí thư của đảng Lao Động, tức đảng cộng sản Hà nội ngày nay, lập ra nhằm mục đích “cần phải triển khai công tác trên mặt trận đấu tranh ngoại giao và hoạt động tranh thủ quốc tế trong giai đoạn chống Mỹ”.

Nhưng ngay ngày 1- 5, thái độ của Hà nội đối với miền Nam đã thể hiện dứt khoát trong bức điện 601, do Tố Hữu thay mặt Ban Bí thư gởi cho Phạm Hùng, Bí thư Trung ương Cục Miền nam “xin báo để các anh biết : theo ý kiến của anh Ba (Ba Duẩn), về chánh phủ, không có vấn đề ba thành phần. Cấu tạo chánh phủ không thể có bọn tay sai Mỹ, không để cho Mỹ có thể có chỗ dựa, phải làm cho quần chúng thấy rỏ sức mạnh, thế mạnh của Cách mạng”. Bức điện nói thêm “Những người đã đầu hàng ta như Dương văn Minh chẳng hạn thì không bắt, nhưng cần có cách quản lý, giám sát” (1).

Hôm biểu tình và diễn binh chào mừng Cách mạng thành công ngày 1-5-1975, trên khán đài, Ông Trương Như Tảng (2), Bộ trưởng Tư pháp của Chánh phủ Cách mạng Lâm thời, hỏi một quan chức Hà nội, ngồi bên cạnh :

- Anh à, sao không thấy bộ đôi Giải phóng diễn binh, hả anh?

- Ủa ! Anh không biết sao? Quân đội ta đã thống nhứt từ tối hôm qua rồi (tức 30/04)

Qua tháng 5/75, nhiều tỉnh trong Nam đã áp dụng cách quản trị hành chánh rập khuôn theo Miền Bắc vì cán bộ đảng viên từ Bắc vào nắm chánh quyền. Họ cho đem nạp hết máy đánh chữ, làm bảng “đăng ký” xe đạp, xe ba gác, gà vịt, chó mèo, …

Dân chúng miền nam bắt đầu ngỡ ngàng khi nhìn những “đồng chí” nắm tay nhau, chân mang dép râu, đi lang thang trên đường phố.

Cuộc chiến tranh 30 năm do Hà nội tiến hành để chiếm cho được trọn vẹn Việt nam mở thêm bờ cõi lãnh thổ xã hội chủ nghĩa đã tiêu hao hơn 10 triệu sinh mạng thanh niên Miền Bắc (3) trong lúc đó đã có nhiều cơ hội thống nhứt đất nước trong hòa bình độc lập nhưng chỉ không cộng sản mà thôi.

Trên thực tế, ngày 30/04 đã không còn, Việt Nam đã thống nhứt. Nhưng trên hình thức, cũng phải có cái thủ tục tuy tiền chế. Hội nghị Hiệp thương Thống nhứt được tổ chức. Trong nội bộ có nhiều ý kiến mâu thuẫn gay gắt. Trong phiên họp sơ bộ, nhiều thành viên CPCMLTMN phát biểu “nguyên tắc là phải thống nhứt nhưng cần có thời gian để hai phần đất nước bị chia cắt có thời gian hòa hợp với nhau” (4).

Ông Huỳnh văn Nghệ phản đối quyết liệt chủ trương thống nhứt ngay của Hà nội. Vài ngày sau, ông nhận được giấy mời ra Hà nội. Hiểu chuyện gì sẽ xảy ra do kinh nghìệm mấy lần trước kia, ông bị cải tạo, nên ông vào nhà thương Chợ Rẫy xin nằm dưỡng bịnh. Cán bộ liền báo cáo về Hà nội và nhận được lịnh “ hãy nhận ông là bịnh nhơn thiệt, bịnh nặng, cần giải phẩu khẩn cấp” (5).Và số phận Tám Nghệ được Lê Duẩn thanh toán trên giường bịnh để Tám Nghệ từ nay đi vào lịch sử người hùng Biên hòa !

Đúng 12 giờ 10 phút ngày 21 tháng 11 năm 1975, “Hội nghị Hiệp thương Thống nhứt giữa hai Miền Nam-Bắc” “kết thúc”. Trong tiếng vỗ tay hoan hô trong tiếng quân nhạc oai hùng trổi lên, Chủ tịch Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền nam, Luật sư Nguyễn Hữu Thọ, dân Nam kỳ trí thức tiểu tư sản, đã lập lại lời của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Nước việt nam là một” !

Trên thực tế, kể từ ngày 30/04/1975, quyền lực, đất đai, tài sản, cả vợ con của dân Miền nam đã thuộc về đảng cộng sản Hà nội. Ký giả pháp, ông Jean Lacouture, trong một bài báo trên nhựt báo Le Monde, viết “Miền nam đã được bình thường hóa” (normalisation) nhưng ông lại viết nordmalisation, có nghĩa là bắc kỳ bình thường hóa !


Nguyễn thị Cỏ May