VI – CỨU CÁNH GIẢ TẠM CỦA ĐỜI SỐNG CHÍNH TRỊ LÀ GÌ, VÀ CỨU CÁNH VĨNH CỬU CỦA ĐỜI NGƯỜI SẼ ĐƯỢC CÁC TÔN GIÁO GIẢI QUYẾT RA SAO? (Bài 6)


Cộng đồng nhân loại hiện nay đã bước qua ngưỡng cửa của thế kỷ XXI, và gần một chục tỉ con người đang ngồi chung trong một chiếc thuyền định mệnh với bao sóng gió bấp bênh và bao bất trắc vì tham vọng ích kỷ mù quáng của đế quốc man rợ vẫn tiếp tục nuôi dưỡng mộng xâm lăng bành trướng để hiếp đáp và khống chế quyền sống, quyền tự do, và độc lập của các quốc gia nhỏ bé hơn mình. Trong đó Hoa Lục vẫn điều động và hướng dẫn hơn một tỉ người phát triển kinh tế rầm rộ để - thay vì tiếp tay xây dựng trật tự mới và hòa bình thế giới bằng tinh thần tự do dân chủ, Hoa Lục vẫn muốn dùng sức mạnh quân sự, chính trị và kinh tế để khống chế các quốc gia láng giềng đặc biệt là Việt Nam là một quốc gia luôn luôn bị hiếp đáp, săn đuổi và làm tình làm tội đủ điều từ bao ngàn năm qua, cho đến nay vẫn chưa chịu buông tha.

Qua bao ngàn năm, qua bao thời đại và qua tất cả các triều đại từ đời nhà Tần đến Cộng sản Hoa Lục, những người Đại Hán phương Bắc đã chẳng bao giờ để cho dân tộc Việt được một ngày sống trong thanh bình, tự do, tự chủ và độc lập. Vì thức tế qua bi thương đó, ý thức vùng dậy phải được thổi bùng lên như một ánh lửa thiêng vạn đại để đốt tan cái bóng tối âm u đầy dẫy sự chết đó. Trước cái bóng tối đầy tội lỗi xấu xa ấy đã kéo dài bao ngàn năm lịch sử, và vì thế những người đang cầm quyền tại Hoa Lục lấy cái gì để tiếp tục hãnh diện về nền văn minh Trung Hoa của họ nữa không? Văn minh là gì nếu nền văn minh ấy không tôn trọng sự sống của con người?

Sau khi duyệt xét lại toàn bộ sự phát triển văn minh của Tây phương từ 3000 năm qua kể từ thời tiên tri Samuel tới thời Thomas Jefferson, James Madison trong cách mạng Hoa Kỳ 1776, lịch sử của nền văn minh tổng hợp của Do Thái, Kito giáo (Judaeo – Christian) và La Hy (Greco – Roman). Trong suốt chiều dài lịch sử và thánh sử ấy đã đưa ra những câu hỏi then chốt nhất để mong tìm thấy những câu trả lời cho hai câu hỏi căn bản nhất cho toàn bộ văn minh của nhân loại.

- Cứu cánh của chính trị là gì?

- Cứu cánh của tôn giáo là gì?

Đối với cuộc sống thực tế của con người thì cứu cánh của chính trị là gì vẫn là điều đáng quan tâm hơn cả; bởi vì nó liên quan trực tiếp đến sự sống và sự chết của tất cả nhân loại, đến từng quốc gia và từng mỗi người dân của các quốc gia đó. Vì thế những câu hỏi sẽ lần lượt được đặt ra như sau:


1 – Cứu cánh của chính trị là gì?

2 – Muốn đạt đến cứ cánh đó thì con người cần một hình thức chính quyền nào, chế độ thần quyền? Chế độ độc tài, quân chủ, quý tộc hay dân chủ?

3 – Mối tương quan giữa nhà nước chính quyền và tôn giáo như thế nào?

4 – Mối tương quan liên hệ giữa chính quyền và mỗi công dân đặt trên nền tảng nào?

5 – Làm thế nào để con người có thể sống bên nhau trong một xã hội chính trị?

6 – Đời sống quốc gia, chính quyền và xã hội dân sự có cần luật pháp không? Nếu đó là luật thiên nhiên (natural law) thì luật thiên nhiên là luật gì?

7 – Đời sống xã hội của con người có cần có đạo đức không?

8 – Xã hội chính trị và xã hội dân sự có cần có công lý không?

9 – Nếu một nền văn minh không còn chú trọng tới khía cạnh tinh thần của văn minh (spiritual beings) nữa thì nền văn minh đó còn sống hay đã chết?


Theo Arnold Toynbee, nhân loại có tất cả 26 nền văn minh và 16 nền văn minh đã chết, trong đó có văn minh La Mã. Một nền văn minh sụp đổ vì những lý do sau đây:


1 – Những tầng lớp tinh hoa trong xã hội đã đánh mất khả năng sáng tạo.

2 – Tầng lớp thống trị quá ham mê danh lợi và quyền lực để xâm lăng và bành trướng nên không còn khả năng hướng dẫn quần chúng.

3 – Đa số người dân bó tay bất lực vì không có ai bảo vệ, nuôi sống và hướng dẫn.

4 – Xã hội hoàn toàn tan rã vì đời sống tinh thần sụp đổ.


Arnold Toynbee cho rằng muốn đề cao trật tự của thế giới chính trị để xây dựng hòa bình và an ninh cho toàn thể nhân loại thì con người phải tìm mọi cách để hợp tác với nhau trên căn bản của những luật lệ của đạo đức. Các quốc gia phải tôn trọng quyền tự do, độc lập và quyền tự quyết của các quốc gia khác. Khi một quốc gia quá chú trọng tới khía cạnh vật chất và quyền lực thì đời sống tinh thần sẽ suy vi tàn tạ và đó là nguyên nhân dẫn đến sự sụp đổ văn minh như trường hợp Hoa Lục hiện nay.

Muốn cứu vãn sự sụp đổ ấy thì Hoa Lục phải xây dựng lại trật tự chính trị dân chủ để trả lại quyền sống, quyền tự do, quyền tự chủ và tự quyết của người dân; cũng như các quốc gia láng giềng.

Ngày nay nhìn vào 3000 năm xây dựng xã hội và quốc gia Tây phương, nhân loại có thể rút tỉa được bao kinh nghiệm lịch sử để đạt được cứu cánh chính trị và cứu cánh tôn giáo cho xã hội con người. Từ thực tế lịch sử của tôn giáo và chính trị ấy cho thấy tôn giáo không phải vấn đề riêng tư của tín ngưỡng cá nhân hay tôn giáo là thần bí như nhiều người nghĩ, mà tôn giáo là ánh sáng tinh thần và ánh sáng tâm linh phản chiếu từ ánh sáng trong thiên nhiên có đầy trong vũ trụ. Khi con người đã đánh mất chân tâm (true and divine conscience), con người đã đánh mất ánh sáng đó; và vì thế bóng tối của lòng tham dục đã ùa tới làm cho con người thành vô minh u ám, sống đầy lầm lạc và tội lỗi với trời đất và với anh em đồng loại. Bi kịch hãi hùng của con người từ đó mà ra.

Ánh sáng của chân tâm chính là ánh sáng của mặc khải hay ánh sáng giác ngộ đã trở thành kinh điển của chính giáo. Ánh sáng đó chiếu sáng lung linh vào đêm tối vô minh của mỗi thời đại để hướng dẫn nhận thức của thời đại tiến về con đường tiến hóa, để từ đó làm thành văn minh mà Arnold Toynbee gọi nó là văn minh sống động (a living civilization).

Ngày nay nhìn vào chiếc gông cùm văn minh văn hóa bái vật (idolatrous civilization) của đại Hán tròng vào cổ Việt Nam và các dân tộc Đông phương mấy ngàn năm qua mới nhận ra sự minh triết của Arnold Toynbee khi ông đưa ra nhận xét thật chính xác của ông như sau:

“Khi một nền văn minh đánh mất quyền năng sáng tạo trong những cuộc thử thách, đó cũng là giai đoạn thử thách để lớn dậy, để tiến đến giai đoạn khuấy động tâm tư con người đang chìm dưới bề mặt hay đã vượt qua khỏi biên cương cường tỏa của tù ngục văn hóa.

Khi chuyện này xảy ra, nền văn minh yếu kém sẽ phải trả giá bằng sự thất bại vì yếu kém, hoặc mất hết sinh khí bởi sự tan biến vào ảnh hưởng của kẻ thống trị, mà luật lệ của kẻ thống trị đã luôn gia tăng sự đàn áp và ức chế, chứ không còn hướng dẫn xã hội con người nữa; đa số dân bị trị, ngoại tại hay nội tại sẽ chống trả lại sự thách đố đó và ý thức là họ có một nét đăc thù riêng biệt của riêng chính họ và họ đã quyết tâm để cứu vãn sự sống trong linh hồn của dân tộc, vì thiểu số thống trị sẽ đàn áp làm cho ý chí của kẻ bị thống trị bị thui chột và triệt thoái, và cuộc xung đột giữa kẻ thống trị và bị trị sẽ tiếp diễn trong các nền văn minh đang suy vi tàn tạ, và sẽ dẫn đến sự sụp đổ, cho đến khi kẻ bị trị sau một thời gian dài tự do bị mất mát, tan vỡ từ cái gọi là quê hương tinh thần dân tộc (spiritual national home) đã thành một cái nhà tù giam hãm và sau cùng trở thành đô thị của sự phá hoại (a city of destruction).

Trong cuộc xung đột giữa đa số bị thống trị và thiểu số thống trị như đã diễn ra từ lúc ban đầu tới chung cuộc, chúng ta có thể khám phá ra cuộc đụng độ chiến đấu tinh thần (spiritual encounter), ở đó sẽ tìm thấy sự tái sinh nơi sức mạnh của sáng tạo bằng cách hòa hợp vào đời sống vũ trụ (the life of universe) để thoát khỏi sự tàn tạ của mùa thu vượt qua những đau đớn của mùa đông để tiến về bầu trời đầy sinh lực của mùa xuân, đây là một hành động rất linh ứng nhiệm màu, trong lúc phản bác lại khi đối đầu với những thử thách mà ở đó tiến trình tiến hóa của Âm-Dương đã đưa đến, sau đó dẫn đến sự ly khai tách biệt thật linh động ra khỏi nhà tù và từ đó một nhánh khác của văn minh được khai sinh ra đời.” (Trích từ Arnold Toynbee “The Study of History” (1947), p.77).

Khi cánh cửa tù ngục của văn minh bái vật bị phá tung thì ánh sáng văn minh linh động của tinh thần sẽ từ từ phục hưng sống lại để đánh dấu một trang sử mới. ĐÓ LÀ THỜI KỲ PHỤC HƯNG VĂN MINH TINH THẦN CỦA ĐÔNG PHƯƠNG (Spiritual Renaissance of Oriental Civilization). Vì văn minh chính là sự sống của con người nên cứu cánh của chính trị và tôn giáo phải là những chủ đề chính được tìm tòi, học hỏi và thảo luận để tìm cho ra một sinh lộ mới cho văn minh tinh thần khi văn minh bái vật của đại Hán sụp đổ vì quá già nua cằn cỗi, từ lâu đã trở thành tù ngục văn hóa lâu đời và đô thị của sự phá hoại trong xã hội con người ở Hoa Lục và Việt Nam.

Ngày nay nhìn vào suốt diến trình phát triển liên tục 3000 năm văn minh tổng hợp của Tây phương cho người ta thấy từ tinh thần Cựu Ước, Tân Ước đến triết lý Hy Lap, từ La Mã đến 10 cuộc duyệt xét lại, cải cách đến cách mạng diễn ra từ gần 800 năm qua tai Tây phương và Hoa Kỳ, cứu cánh của chính trị đã được xác minh qua nhiều thế hệ và nhiều thời đại. Cuối cùng trở thành cứu cánh của Hiến Pháp Hoa Kỳ (1787), ở đó cứu cánh của chính trị và chính quyền là thiết lập công lý, xây dựng và bảo vệ sự thanh bình an lạc, và ưu tư lo lắng cho an sinh hạnh phúc của toàn dân.

Ngay từ thời Cựu Ước, Moses đã đưa 10 Điều Răn để làm nền móng căn bản của luật đạo đức để cho Do Thái xây dựng lên quốc gia thánh thiện của họ. Khi Do Thái đòi là họ muốn có vua thì Thiên Chúa đã chọn vua cho họ và tất cả các vua đều phải giữ luật thiên nhiên của trời đất mà cai trị dân. Dù cứu cánh của chính trị chỉ là cứu cánh tạm thời (temporal end), nhưng các vua muốn chu toàn trách nhiệm với giao ước giữa dân Do Thái và Thiên Chúa thì buộc các vua phải thực thi công lý trong đời sống quốc gia và xã hội của họ. Vì thế khi các vua tạo ra sự bất công thì họ đã bị Thiên Chúa trừng phạt rất nặng nề. Vì thế luật của đạo đức là luật để bảo vệ công lý cho xã hội Do Thái.

Kế tiếp, từ 2500 năm qua tại Hy Lạp, tất cả các nhà hiền triết từ Socrates, Plato, Aristotle… luôn luôn ưu tư về một câu hỏi: “Công lý là gì?” “Thế nào là một cộng đồng và một nhà nước lý tưởng, ở đó công lý như Socrates đã từng nói, …”công lý, đó là một chủ điểm mà chúng ta đòi hỏi phải có, đôi khi, công lý đã được nói tới như một thứ đạo đức cá nhân, và đôi khi được coi như là đạo đức của nhà nước.”

Trên tinh thần Cộng Hòa ấy, cái gì là điều tốt đẹp, lớn lao nhất, và cái gì là điều xấy xa tồi bại nhất? Điều xấu xa tồi tệ có thể dùng để xây dựng sự đoàn kết hay điều tốt đẹp sẽ gắn bó con người lại với nhau? Một nhà nước độc tài sẽ không thể đưa đến sự đoàn kết quốc gia mà không vi phạm tới tự do cá nhân của người dân.

Riêng Aristotle khi bàn về chính trị và những vấn đề của chính quyền, ông đã đề cao một chính quyền hiến định (constitution government), và luôn luôn cảnh cáo trước cái nguy hại là những cám dỗ thường mở lối cho con người bước vào như một con vật chính trị (political animal), thì chúng ta cần phải phản bác lại, đó là những người đã trải qua rất nhiều phản tác dụng chính trị và những hư hỏng xấu xa của chính quyền. Đối với Aristotle, những kẻ độc tài thường là những nhà cai trị vô luật pháp và vì thế các chế độ độc tài thường là các chế độ bất công.

Theo quan điểm của Aristotle thì cộng đồng quốc gia là một cộng đồng của những con người tự do, vì thế muốn có tự do thì cộng đồng phải có những công dân đạo đức với tất cả tài năng và phẩm hạnh cao quý thì mới bảo đảm được tinh thần của Cộng Hòa. Những công dân lý tưởng và cao quý đó sẽ tham gia trực tiếp vào việc điều hành và quản trị cộng đồng quốc gia.

Tất cả những đóng góp lớn lao của các nhà hiền triết Hy Lạp hay La Mã như Plutarch và Tacitus đều nhắm vào cứu cánh là làm thế nào để tạo dựng hạnh phúc ấm no cho toàn thể cộng đồng quốc gia.

Vào thời Trung cổ, thánh Thomas Aquinas là khuôn mặt thần học sáng chói nhất của Giáo Hội (1225-1274) đã đưa một tổng hợp thật nhuần nhuyễn giữa văn minh của Cựu Ước và Tân Ước, Hy Lạp và La Mã để làm nền móng căn bản cho lý tưởng tự do dân chủ sau này. Mục tiêu mà Aquinas nhắm vào là – đầu tiên và trên hết là phải tạo được hạnh phúc chung cho toàn thể xã hội. Hạnh phúc đó thuộc về toàn dân hay thuộc về toàn thể cộng đồng quốc gia. Trong tác phẩm Summa Theologica, một tác phẩm vĩ đại đã gây được những tầm ảnh hưởng đến cả hai khối Công Giáo và Tin Lành, cũng như bao thế hệ các nhà thần học, triết gia, các sử gia, học giả và các tầng lớp trí thức tinh hoa nhất của Tây phương từ gần 800 năm qua trên suốt tiến trình phát triển những lý thuyết về chính trị và chính quyền trên ba cột trụ chính:

b

- Thần học

- Triết học

- Luật pháp



Trong Cuốn Treatise on Law, thánh Thomas đã đặt ra những câu hỏi then chốt cho đời sống của cộng đồng quốc gia: * “Ai là người có quyền làm luật cho xã hội?”

* “Cái gì cho phép quyền hành có quyền đối với chúng ta?”

Theo Aquinas, tất cả quyền lực, quyền hành đều đến từ Thiên Chúa, nhưng không đến trực tiếp từ Thiên Chúa với các nhà cai trị bằng cách lập lên các vua với quyền thiên tử (divine authority). Tất cả quyền lực, quyền hành đó Thiên Chúa đưa đến cho tất cả người dân. Quyền lực và quyền hành đó mà dân được Thiên Chúa trao cho để mà làm luật và dưới luật đó họ sống cuộc sống của họ. Họ có quyền tự cai trị lấy chính họ (self government), hay qua đại diện của người dân. Họ không thể bị cai trị bởi luật do con người nào đó làm ra mà lại không có sự ưng thuận của toàn dân.

ĐÂY LÀ LÝ THUYẾT CĂN BẢN XÁC ĐỊNH QUYỀN TỐI THƯỢNG CỦA QUỐC GIA THUỘC VỀ TOÀN DÂN.


Bởi vì tiếng nói của dân là tiếng nói của Thiên Chúa (The Voice of people is the voice of God). Nhưng với điều kiện là toàn dân phải làm luật công chính (Just Laws) để tạo ra và để bảo vệ hạnh phúc của toàn thể xã hội.

Vì thế luật đạo đức (ethical laws) của nhà nước và chính quyền phải đặt trên nền tảng đạo đức của luật thiên nhiên. Tuân hành theo đạo đức là tuân hành luật thiên nhiên (natural law).

Summa Theologica ngoài phần lý thuyết chính trị còn lại là phần lý thuyết thần học của Kito giáo. Trong đó có ba phần:


1 – Thuộc về Thiên Chúa.

2- Sự vận hành của muôn vật hướng về Thiên Chúa.

3- Nói về Chúa Cứu Thế, được nói đến như một người dẫn đường cho nhân loại trở về với đấng Tạo Hóa. Và cũng giống như con đường Bát Chánh Đạo của Đức Phật, Bài Giảng Trên Núi (The Sermon on the Mount) của Chúa Jesus là con đường Bát Chánh Đạo của Kito giáo -- ở đó – qua sự hướng dẫn của Giáo Hội, sẽ giúp cho con người tìm thấy CỨU CÁNH VĨNH CỬU của con người (eternal end).


Trong xã hội chính trị, thánh Thomas đã đề cập đến:


- Luật vĩnh cửu (eternal law)

- Luật thiên nhiên (natural law)

- Luật của lương tâm (human law)

- Luật của trời đất (divine law)


Trong đó có luật của Cựu Ước và luật Tân Ước!

Thánh Thomas tìm kiếm bản chất của luật pháp. Vấn đề chính là luật pháp là gì. Luật xuất phát từ “thiên lý” (divine reason), và luật được làm ra vì hạnh phúc chung của cả xã hội. Nếu luật không trực tiếp đem đến hạnh phúc chung thì không còn là luật nữa. Ông cho rằng, “có một số luật rất độc tài, luật ấy không chú tâm tới hạnh phúc chung của toàn dân và toàn thể xã hội, mà chỉ bảo vệ quyền lợi của riêng họ, như vậy không thể gọi đó là luật được.” Và luật không theo cả “thiên lý” thì không bao giờ là luật được.

Khi để cập đến luật vĩnh cửu, Thomas Aquinas cho rằng, điều đó muốn nói về chính quyền của Thiên Chúa. Tôn giáo và thần học đã áp dụng luật đó.

Riêng về luật thiên nhiên, Aquinas cho biết, muôn loài, muôn vật đều sống theo luật thiên nhiên. Khi mà tất cả muôn vật đều được hướng dẫn bởi luật vĩnh cửu, luật thiên nhiên, đó chính là ấn dấu của luật vĩnh cửu trên tất cả muôn loài muôn sinh vật..

Luật xuất phát từ lương tâm của con người (Human Law) rất cần phải có, vì nó cũng từ luật trong thiên nhiên mà ra, nhưng mang tính chất tổng quát với những nguyên tắc không thể chứng minh.

Riêng luật đạo đức của trời (divine law) và 10 Điều Răn trong luật Giao Ước là của Trời.

Từ bốn luật ấy cho thấy tội sát nhân là vi phạm luật của Trời, luật thiên nhiên và luật lương tâm của con người. Thomas Aquinas cho rằng, luật thiên nhiên không phải luật viết xuống thành văn nhưng phải được công bố bằng cách nào đó, vì “Luật thiên nhiên được công bố qua sự kiện thực tế cho thấy, bởi vì Thiên Chúa khơi động trong TÂM con người, vì thế con người sẽ biết một cách tự nhiên. "

Luật tự nhiên ấy được Thiên Chúa viết xuống TÂM con người, nếu có khuynh hướng giữ được chân TÂM thì họ sẽ biết. Vì con người sống trong xã hội nên con người cần tuân hành theo luật đạo đức của Trời, luật thiên nhiên.

Tất cả luật lương tâm của con người đều đến từ luật thiên nhiên, vì thế mọi nơi đều giống nhau.

Từ những đóng góp nền tảng của thời Trung cổ, Âu châu đã bước vào thời Phục Hưng (Renaissance) vào giữa thế kỷ 14 với những khuôn mặt nổi bật như Corenzo de Midici và Ceasare Borgia, Giáo Hoàng Alexander VI và Florentine Friar Savonarola, Pico della Mirandola, Pompanazzi và Giordano Bruno. Tất cả mọi nỗ lực là làm sống lại các giá trị cổ xưa của Hy Lạp và La Mã, đồng thời từ từ quay mặt với tôn giáo để khai sinh ra chủ nghĩa nhân bản phàm tục (secular humanism) để bước chân vào thời hiện đại với tất cả các cuộc cải cách tôn giáo và các cuộc cách mạng liên tục xảy ra suốt bao thế kỷ qua để khai sinh ra nền văn minh dân chủ với những đóng góp những lý thuyết chính trị và chính quyền cực kỳ vĩ đại cho trào lưu tự do dân chủ trên toàn thế giới.

Ngay vào cuối thời Trung cổ, ba trung tâm để đào luyện toàn bộ trí thức Âu châu gồm có Bologna tại vùng Đông Âu, Paris và Oxford tại Anh. Từ những chiếc nôi này biết bao thiên tài vĩ dại đã xuất hiện để đóng góp những sản phẩm trí tuệ tuyệt vời cho văn minh dân chủ toàn cầu.

Dù chủ nghĩa nhân bản phàm tục chối bỏ tôn giáo và dù có những làn sóng trí thức tấn công liên tục vào thành trì văn minh Kito giáo để cổ súy cho những khuynh hướng triết học hiện sinh vô thần và cộng sản – nhưng cuộc cải cách tôn giáo vĩ đại (reformation) do John Huss, Zingly, Luther và Calvin đã được phát động để khai sinh ra khối Tin Lành Cơ Đốc Giáo (Protestantism) từ đó dẫn đến những cuộc cách mạng tại Anh, Hoa Kỳ và Pháp.

Để soi sáng và hướng dẫn các cuộc cách mạng dân chủ vĩ đại đó, những khuôn mặt chói sáng nhất , lừng lẫy nhất, đạo hạnh nhất và minh triết nhất đều đã đóng góp những sản phẩm trí tuệ rực rỡ của họ như Montesquieu với tác phẩm The Spirit of Law; John Locke với Treatise on Civil Government; Ronsseau với Social Contract; Thomas Hobbes với Laviathan; John Stuart Mill với On Liberty and Representative Government; Kant với Science of Right; và Hegel với Philosophy of Right.

Tất cả các nhà thần học, tư tưởng gia, triết gia, học giả, sử gia và trí thức đều đề cao quyền tự do, quyền sống, quyền tư hữu của mỗi cá nhân con người. Họ đều cổ súy cho đạo đức quốc gia và công lý xã hội để quyết tâm xây dựng cho được CON ĐƯỜNG VƯƠNG ĐẠO (Idealism) cho lý tưởng có đẹp của tự do dân chủ cho xã hội con người. Từ những con người đó biết bao máu tử đạo đã đổ ra, biết bao người đã bị đưa lên giàn hỏa thiêu sống hay chịu đựng bao cái chết kinh hoàng nhất, rùng rợn nhất và đau đớn nhất chỉ vì muốn lo cho hạnh phúc cho toàn dân và toàn thể xã hội con người.

Oliver Cromwell trong cuộc cách mạng Anh vào 1642, người đã đạt được DỰ LUẬT NHÂN QUYỀN (The Bill of Right) để sau này thành Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền.

Tất cả các nhà cách mạng Hoa Kỳ như Thomas Jefferson, James Madison, John Adams, John Quincy Adam, Benjamin Franklin, John Marshall, v.v… đã biến giấc mơ vương đạo của tự do dân chủ của nhân loại thành một quốc gia vĩ đại nhất vào 1776. Bản Tuyên Ngôn Độc Lập của Thomas Jefferson đã viết ra để xác định những quyền bất khả xâm phạm của người dân (inalienable rights) như quyền sống, quyền tự do, quyền tư hữu và quyền tìm kiếm hạnh phúc của họ.

Từ kết quả lịch sử lớn lao đó cho thấy, từ 3000 năm qua nền văn minh tổng hợp của Cựu Ước, Tân Ước, Hy Lạp và La Mã đã không bao giờ ngưng nghỉ để đề cao trật tự của trời đất thiên nhiên mà đấng Tạo Hóa đã dựng lên để con người và muôn sinh vật được sống hòa đồng hợp nhất với trời đất và hòa đồng hợp nhất giữa con người với nhau, nếu con người biết thuận theo luật siêu nhiên vĩnh cửu, luật thiên nhiên là luật đã khắc ghi trong lương tâm của mỗi con người thì trật tự của thế giới con người cũng là trật tự của vũ trụ.

Hành động lịch sử của Thiên Chúa là tìm kiếm sự hòa đồng hợp nhất giữa con người và đấng Tạo Hóa, giữa con người và trời đất thiên nhiên, cũng như giữa các tạo vật và đấng Tạo Hóa. Vì vậy Thánh Kinh là một bộ luật để giúp cho nhân loại giải quyết toàn bộ cuộc sống của họ. Từ đó cho thấy chối bỏ tôn giáo và đạo lý thì cuộc sống của xã hội con người làm sao ổn định và làm sao có thanh bình, hạnh phúc và an lạc được?

Cũng theo Thánh Kinh, con người có thể trở thành vĩ đại nếu họ sống hòa đồng với đấng Tạo Hóa, hòa đồng với thiên nhiên và hòa đồng với anh em đồng loại.

Trong lúc đó khát vọng tự do dân chủ là một khát vọng chính đáng nhất của con người, nhưng muốn thế con người phải có đời sống tinh thần và tâm linh phong phú thì từ đó mới dẫn con người đến chỗ tự do tốt đẹp nhất – bởi vì ở đâu có thần khí, ở đó có tự do.

Chỉ vì ý thức được giá trị cao quý của tự do và tôn trọng tự do của con người nên từ 3000 năm qua mới có những tranh đấu không ngừng cho tự do. Chính thánh Phao Lồ đã từng nói: “Bởi vì anh em được gọi để tìm tự do, nhưng này anh em, đừng xử dụng tự do để thỏa mãn những ham muốn xác thịt, mà tự do là ước vọng phục vụ lẫn nhau.”

KẾT LUẬN


Ngày nay người dân Việt đang đối đầu với nạn xâm lăng không tiếng súng của người Hoa Lục như đối đầu với một tuyệt lộ của quê hương. Gông cùm của tù ngục văn hóa tròng lên đầu lên cổ dân tộc này bao ngàn năm chưa cởi bỏ được thì chẳng lẽ phải nhận thêm gông cùm nô lệ khác nữa hay sao? Đúng như Jean Jacques Rousseau đã nói: con người sinh ra trong tự do nhưng ở khắp mọi nơi, con người vẫn bị xiềng xích trói buộc. Vì thế trước khát vọng của tự do, tự chủ và sáng tạo, cánh cửa của tù ngục và xiềng xích phải được nhắm tới để phá cho tan tành để trả lại quyền sống cho con người.

Từ những thực tế của lịch sử bao ngàn năm cho thấy các chế độ độc tài, quân chủ chuyên chế và phong kiến đều là những chế độ vô luật pháp và xã hội mà những chế độ này tạo ra đều là những xã hội bất công, lạc hậu, nghèo đói và đầy dẫy tội lỗi xấu xa đối với trời đất và đối với con người.

Dân tộc Việt, sau một ngàn năm nô lệ giặc Tàu, và hơn 2000 năm sống trong cánh cửa tù ngục văn hóa bái vật của người phương Bắc chắc hẳn đã quá đủ (enough is enough) để gây dựng ý thức vùng dậy để tìm lại tự do và tự chủ cho chính mình và cho cả một dân tộc. Muốn có đủ sức mạnh để vùng dậy giải phóng mình ra khỏi tất cả mọi hình thức trói buộc và nô lệ thì Thánh Kinh khuyên rằng, phải khởi đầu bằng cuộc phấn đấu để trở về với ĐẠI THỂ, ĐẠI NGÃ, và sự hòa đồng đó là một phần cần thiết trong sự sáng tạo vũ trụ (cosmic creativity), điều này còn hướng xa hơn nữa, là con người phải hòa đồng với chính họ, với thiên nhiên và với anh em đồng loại của họ và cuối cùng là hòa đồng với chân đế, chân như hay Thượng Đế. Từ đó sẽ thấy một thứ tài nguyên thiêng liêng ẩn dấu một sức mạnh vô biên dành cho những cuộc phấn đấu để chống lại thứ tâm lý suy đồi và thứ tinh thần u ám bẩn thỉu nơi những kẻ thống trị con người. Vì thế con người có thể chuyển hóa tâm lý sáng tạo bởi vì con người đã được ấn dấu trong đáy hồn sâu thẳm, một thứ ánh sáng của Thượng Đế ban cho, và họ có thể xử dủng được sức mạnh đó khi họ hòa đồng hợp nhất được với khí hạo nhiên hay thần khí trong trời đất.

Ngoài ra sức mạnh tâm linh, theo các nhà thần học thì đó là công cụ của sự mặc khải, ở đó hướng dẫn con người đi sâu vào sự hiểu biết về Tạo Hóa, và là nguồn gốc phát sinh ra sức mạnh của đạo đức trong đời sống và nhiều hoa trái tốt đẹp khác nữa.

Mục đích của cánh cửa tù ngục văn hóa của đại Hán là làm cho tinh thần dân Việt tàn tạ héo úa nên từ bao ngàn năm qua sức chống trả có lúc đã bùng lên khi phải tranh hùng với Hán – Đường – Tống – Nguyên – Minh – Thanh , nhưng sau đó lại từ từ suy sụp.

Giờ đây muốn gây dựng sức mạnh tinh thần của dân tộc, mỗi người phải xây dựng lại đời sống tâm linh – bởi vì đời sống tâm linh sung mãn là căn bản để canh tân, cải cách, và lớn mạnh cho cuộc chiến đấu trước tuyệt lộ của sinh mệnh quê hương. Đó là cách duy nhất để tìm lại tinh thần tự do, tự chủ và sáng tạo để cùng nhau tạo dựng một SINH LỘ cho quê hương.

Từ 3000 năm tranh đấu và xây dựng văn minh dân chủ của Cựu Ước, Tân Ước, Hy Lạp, La Mã và Âu châu, cũng như Hoa Kỳ cho thấy, cuộc tranh đấu cho tự do dân chủ là cuộc tranh đấu cho những giá trị, ở đó tự do, bình đẳng, công lý và đạo đức là nền móng căn bản để tạo hạnh phúc cho toàn dân. Như Thánh Kinh cũng như các nhà hiền triết Đông phương đã nói, tiếng nói của dân là tiếng nói của Thiên Chúa hay quyền tối thượng của dân là quyền làm luật, và ở dưới luật ấy con người sống cuộc sống của họ. Vì thế dân phải viết ra luật công chính thì hạnh phúc của toàn dân mới được bảo đảm.

Tóm lại, khi cánh cửa tù ngục văn hóa bái vật bị phá sập thì một luồng ánh sáng tinh thần sẽ từ từ sống dậy như một sinh lộ mới.

Đúng như Arnold Toynbee đã tiên tri hơn 60 năm qua, đây là cuộc chiến đấu tinh thần, ở đó con người sẽ tìm thấy sự tái sinh nơi sức mạnh sáng tạo bằng cách hòa hợp vào đời sống vũ trụ. Đây là một hành động rất linh ứng nhiệm mầu, trong lúc phản bác lại khi đối đầu với những thử thách mà ở đó tiến trình tiến hóa của âm – dương đã đưa đến, sau đó dẫn đến chỗ ly khai tách biệt khỏi nhà tù, và từ đó một nhánh khác của văn minh được khai sinh ra đời.

Phải chăng đây chính là Ý THỨC VÙNG DẬY TRƯỚC CÁNH CỬA CỦA VĂN MINH BÁI VẬT ĐỂ TÌM LẠI TINH THẦN TỰ DO, TỰ CHỦ VÀ SÁNG TẠO TRÊN BI KỊCH CỦA QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM?


Nguyễn Anh Tuấn

Nhóm Vận Động Hoà Đồng Tôn Giáo Và Dân Tộc

OKLAHOMA, Mùa Hè 2009