V – QUAN NIỆM CỦA KITO GIÁO VỀ ĐỜI SỐNG TÂM LINH VÀ TIẾN TRÌNH CHUYỂN HÓA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI (Bài 5)


Cuối cùng, nếu lịch sử và những kinh nghiệm lịch sử là người thầy dậy vĩ đại nhất cho con người, thì duyệt xét lại TỪ NHỮNG XUNG ĐỘT KHỐC LIỆT THỜI TRUNG CỔ GIỮA CÁC VỊ GIÁO HOÀNG VÀ CÁC VUA CHÚA ĐẾN SỰ RA ĐỜI CỦA NỀN VĂN MINH DÂN CHỦ TOÀN CẦU phải chăng là một việc làm quá cần thiết. Tại sao thế giới Tây phương đã trải qua gần 800 năm với bao lần phục hưng cải cách và cách mạng để khai sinh ra nền văn minh dân chủ toàn cầu như hiện nay, mà hơn 2000 năm qua thế giới Đông phương vẫn như bất động im lìm trong nỗi câm nín triền miên trong bất công, đau khổ, đói nghèo và lạc hậu?

Từ sự thật não nề đó cho con người thấy được trọn vẹn cái bản chất u ám của một nền văn minh bái vật đã xuất hiện trên dòng sử mệnh của Trung Hoa Lục Địa và Việt Nam như một thứ “oan gia nghiệp chướng” trùng trùng điệp điệp vây hãm tư tưởng và hành động của con người suốt bao ngàn năm qua và làm cho bao dân tộc mất quyền tự chủ, quyền tự do, mất khả năng sáng tạo nên cuộc sống lúc nào cũng chỉ thấy tuyệt lộ và tử lộ buồn bã âm u vây hãm. Trên tử lộ và tuyệt lộ đó, kiếp trầm luân đọa đày của con người không còn lựa chọn nào khác hơn là “lấy ĐẠI NGÃ làm nơi nương tựa và lấy GIÁO LUẬT làm đuốc soi đường” đúng như Đức Thế Tôn đã dậy.

Cũng tương tự như lời dậy của Đức Phật, luật về tôn giáo trong Cựu Ước và Tân Ước có những mục tiêu như sau:

- Con người phải có sự hiểu biết (understanding) và kiến thức (knowledge) về đấng Toàn Năng công chính cai quản vũ trụ.

- Truyền dậy đạo lý và ban phát công lý.

- Đưa luật thiên nhiên của trời đất đến cho con người.

- Thúc đẩy thi hành trách nhiệm đạo đức trong sáng tạo.

- Xây dựng ý thức tối cao của đạo đức.


Vì con người sống vào sự nô lệ của con người vào gông cùm văn hóa tư tưởng bái vật nên con người không còn tự do để sống với chân tính (true nature) của mình và tính mệnh của họ. Trong gông cùm văn hóa đó, “bất công, đố kỵ, ghen tuông, thù nghịch, kiêu căng, nhục dục buông thả tràn đầy trong các quốc gia" (Roman 1:29). Trên thực tế mới có cuộc chiến đấu cho những giá trị đạo đức trên toàn thế giới giữa những ham muốn đầy lòng tham dục xấu xa của con người và lương tâm của họ.

Đối với thánh Phao Lồ, tội lỗi quá thảm khốc bởi nó đem đến sự chết cho những con người có triển vọng là con của Thiên Chúa (hay Phật sẽ thành). Đó là một thứ quỉ quái kinh hoàng bởi vì sự hiện hữu của nó như một thách đố với sự hư hỏng xấu xa của con người nên cần có sự hiểu biết về đạo đức và muốn bảo vệ thiên tính họ phải giữ lấy đạo đức trong cuộc sống.

Theo Thánh Kinh, con người bị giới hạn và rất bé nhỏ, con người giới hạn bị chính sự chết, đời người quá ngãn ngủi, sự chết không thể tránh được. Con người giống như một hơi thở, những ngày tháng của đời người sẽ qua đi như cái bóng (Ps 144:4).

Con người phải biết chia sẻ và hợp nhất với cái toàn thể, cái ĐẠI NGÃ (wholeness) trong cái thực tại nhiệm màu. Con người không thể chu toàn chính cái bản chất thiên nhiên của họ, ngoại trừ khả năng của họ có được từ sự tự do trong tâm hồn… nhưng tự họ không thể hoàn tất bản tính tự nhiên của họ ngoại trừ sự tự do trong tâm hồn cộng thông hợp nhất được với đấng Tạo Hóa, tức là ĐẠI NGÃ ÁNH SÁNG.

Theo Gardner, Thiên Chúa không thể cứu con người, chính ý chí của họ quyết định lên sự sống hay sự chết của họ.

- Họ phải có khả năng nhìn vào bóng tối của tội lỗi và lầm lạc.

- Muốn tìm kiếm hạnh phúc con người phải hiểu tội lỗi là gì.

- Phải thấy được hai mặt của đời sống, tội lỗi và thánh thiện, bóng tối và ánh sáng, phải và trái.

Thánh Kinh cho rằng “sự vĩ đại của con người cũng là bằng chứng hiển nhiên”.

Con người được Tạo Hóa sinh ra để sống hòa đồng với thiên nhiên, hòa đồng với đấng Tạo Hóa và hòa đồng với anh em đồng loại. Quan niệm này của Thánh Kinh muốn ám chỉ rằng cuộc phấn đấu để đi về với ĐẠI THỂ hay ÁNH SÁNG ĐẠI NGÃvà hòa đồng là một phần chính yếu trong sự sáng tạo vũ trụ (cosmic creativity), điều này còn hướng tới xa hơn nữa, là con người phải hòa đồng với chính họ, giữa thân xác và tâm hồn, hòa với thiên nhiên và với anh em đồng loại của họ - họ sẽ về được vớiÁNH SÁNG ĐẠI NGÃ chỉ đến khi nào con người hòa đồng được với đấng Tạo Hóa. Con người có một thứ tài nguyên ẩn dấu để dành cho cuộc phấn đấu để chống lại thứ tâm lý hư đồi xấu xa và thứ tinh thần u ám vẫn còn đó, vì thế con ngừi có thể thay đổi chuyển hóa tâm lý thành sáng tạo nếu họ có tự do trong tâm hồn, bởi vì con người đã được ấn dấu trong đáy tâm hồn sâu thẳm một thứ ánh sáng của Tạo Hóa ban cho con người, và họ có thể xử dụng được sức mạnh đó khi con người nương tựa vào ÁNH SÁNG ĐẠI NGÃ.

Theo Gardner, sự cứu chuộc là một tiến trình mà ở đó bản chất con người được chuyển hóa.

Thánh Kinh nhận thấy bản thể tính chính là nơi tâm linh hay tinh thần của con người. Con người phải có ý hướng mạnh mẽ về sự hòa đồng hợp nhất giữa thể xác và tinh thần con người trong một con người toàn vẹn… trong đó con người là hình ảnh thiêng liêng. Đời sống tâm linh phong phú dẫn chúng ta đến với tự do. “Nếu bất cứ ai sống trong Chúa Kito, người đó là một sáng tạo mới " (II Cor. 5:17). Những tín hữu có tự do – bởi vì ở đâu có thần khí, ở đó có tự do.

Đó là thần khí (Holy Spirit) (hay ánh sáng giác ngộ theo Phật giáo). Khi có ánh sáng đó chính là người sáng tạo ra một đời sống mới. Đời sống tâm linh cũng là tác giả tạo ra sự hòa đồng hợp nhất để con người gắn bó với nhau trong đời sống chung. Đời sống tâm linh của con người sẽ sản sinh ra những hoa trái của đạo đức, “tình yêu, niềm hoan lạc hạnh phúc, sự thanh bình an lạc, lòng can đảm kiên trì, lòng từ ái, sự thánh thiện, niềm tin mạnh mẽ, tinh thần cao thượng và biết cách tự kiểm soát được lòng mình " (Gal 5:22).

Theo Thánh Kinh, sức mạnh tâm linh là công cụ của sự mặc khải, ở đó hướng dẫn con người đi sâu vào sự hiểu biết về đấng Tạo Hóa, và đời sống tâm linh ấy cũng là nguồn gốc phát sinh ra sức mạnh của đạo đức trong đời sống. Những thành quả này và nhiều hoa trái của đời sống tâm linh sẽ chỉ cho thấy toàn bộ tương lai trong chương trình cứu độ cho ngưỡng cá nhân và cho cả thế giới.

Tội lỗi đã trở thành một lực lượng nổi loạn để chống lại Thiên Chúa. Thế giới vì thế có hai vương quốc, VƯƠNG QUỐC CỦA ÁNH SÁNG và VƯƠNG QUỐC CỦA BÓNG TỐI. Chính Chúa Jesus cho rằng con người có tự do để chấp nhận hay chối bỏ vương quốc của Thiên Chúa. Sự lựa chọn sẽ mang đến kết quả cho họ… những ai chọn lựa vương quốc của bóng tối sẽ gặt lấy sự đau khổ muôn đời và sự chết, đó là tự họ lựa chọn như thế.

“Sự cám dỗ vĩ đại nhất của con người là họ quên đi sự thật về phẩm tính cao quý của họ được tạo ra.”


Thánh Kinh rất ưu tư tới sự thay đổi chuyển hóa xã hội. Nhưng phải chuyển hóa tâm thức mới dẫn đến sự thay đổi đời sống rồi sau đó mới đưa đến sự thay đổi chuyển hóa xã hội, chuyển hóa quôc gia và chuyển hóa thế giới.

Chúa Jesus là cả bầu thần khí trong vũ trụ thiên nhiên và là đấng sẽ cứu độ tất cả nhân loại.

Đó là sự cứu độ từ tội lỗi dẫn về sự công chính, từ sự chết dẫn đến sự sống. Sự cứu rỗi được đưa từ sự thống trị của bóng tối, chuyển qua vương quốc của ánh sáng, tức vương quốc của ĐẠI NGÃ TÂM LINH.

Sự thất bại não nề của nền văn minh bái vật đã quá hiển nhiên trong lịch sử Đông phương từ hơn 2000 năm qua, và ngay hiện nay (2009), những người nắm quyền cai trị dân, quân chủ hay đảng cộng sản đều đã:


- Không nuôi được dân.

- Không bảo vệ được dân.

- Không giáo hóa được dân.


Tại sao, bởi vì nền văn minh bái vật ấy, từ vua quan, giới sĩ phu hay thứ dân đều sống quá xa lạ với đạo lý, với chân tâm của con người, với tự do, tự chủ, với bình đẳng, với đạo đức và công lý mà Thánh Kinh và các chính giáo muốn đem đến cho xã hội của con người. Nếu văn minh bái vật ấy đã trở thành một gông cùm xiềng xích để xích hóa và nô lệ tư tưởng và đời sống con người triền miên trong kiếp trầm luân đọa đày, ở trong đó, đời sống tâm linh và tinh thần của con người bị bại hoại vật vờ. Tình trạng vong thân và vong tính của con người quá nghiêm trọng, mất mát vĩ đại nhất là chân tâm của con người; vì thế con người đã mất mát niềm tin não nề mà không làm sao cứu vãn được.

Sự vị kỷ, ích kỷ và qui kỷ của chính tầng lớp cai trị dân đã phá hủy toàn bộ nền tảng tương giao trong đời sống cộng đồng, xã hội và quốc gia nên con người sống rất bơ vơ lạc lõng bên anh em, con người sống rất yếu đuối và đầy sự sợ hãi trước quyền lực và bạo lực. Con người sống giống như những con cá tội tình mắc kẹt trong cái lưới lồng lộng chỉ thấy tội lỗi và lầm lạc mà không sao vùng vẫy được.