lV – XIỀNG XÍCH NÔ LỆ VĂN HÓA TRONG TRẬT TỰ QUÂN THẦN VÀ ĐẠO VUA TÔI CỦA ĐÔNG PHƯƠNG (Bài 4)


Ngày nay nhìn vào suốt dòng sử mệnh não nề với tất cả những kiếp đọa đày trầm luân kéo dài đăng đẳng hơn 2000 năm của dân tộc Việt Nam, của dân Hoa Lục và của các dân tộc Đông phương phải gánh chịu dưới nền văn minh bái vật của đại Tần, đại Hán, với những chế độ quân chủ chuyên chế và phong kiến, ở đó vương quyền đã nắm thế quyền còn nắm luôn cả thần quyền khi họ nhân danh “Thiên Tử” để “thế thiên hành đạo”, thay trời để trị dân.

Các vua đã khai sinh ra “trật tự quân thần” và “đạo vua tôi”, và tự nhận là cha mẹ của muôn dân, phụ mẫu chi dân. Nếu đã tự nhận là cha mẹ của dân thì lẽ ra họ phải làm sao tạo ra được cảnh quốc thái dân an, quốc gia thịnh trị và họ phải nuôi được muôn dân, bảo vệ được muôn dân, và giáo hóa được muôn dân sao cho hợp với Thiên đạo và nhân đạo mà văn minh tinh thần của Tam giáo nhắm tới từ 2500 năm qua. Nhưng khốn thay, các chế độ quân chủ chuyên chế và phong kiến và cộng sản đã làm cho muôn dân đói khát , làm cho muôn dân yếu hèn, và làm cho muôn dân khốn khổ trăm bề suốt bao ngàn năm qua để cho bao dân tộc phải chìm đắm trong nghèo đói và lạc hậu thật tủi nhục.

Ngày nay ngồi duyệt xét lại lịch sử văn minh Đông phương và Tây phương mới thấy đúng như Nguyễn Du đã mô tả:

Kể sao xiết nỗi thảm sầu,

Đoạn trường ai có qua cầu mới hay.

Trên dòng sử m,ệnh bi thương và tăm tối đó, người dân Việt bao ngàn năm con người thấy gì, cảm thấy gì ngoài những dòng nước mắt nhỏ xuống âm thầm như những dòng “lệ rơi thấm đá” của kiếp con người? Có lẽ chính vì thế mà xưa Nguyễn Du khi đứng trước dòng sử mệnh của Việt tộc đã để lại lời nhắn nhủ cho hậu thế qua tiếng kêu đau thương của Đoạn Trường Tân Thanh như tiếng réo gọi của người sĩ phu đất Việt.

Đánh liều nhắn một đôi lời.

Nhờ tay tế độ vớt người trầm luân.

Ngày nay dưới chế độ cộng sản vô thần và đại Hán, kiếp người trầm luân của người dân Việt và Đông phương vẫn còn kia hay vẫn còn đó như một lời thách đố với lương tâm của bao triệu triệu con người trí thức thời đại, và lương tâm của con người không thể không có những tra vấn não nề và cấp thiết hơn bao giờ hết.

“** Có còn mấy ai đi biện minh cho công lý?

** Và còn mấy ai đi cổ súy cho đạo đức con người?.

** Và còn mấy ai muốn xây dựng tình người trong một thế giới chỉ thấy tranh danh đoạt lợi, chỉ thấy tranh bá đồ vương, và chỉ thấy tranh quyền cướp nước? "

Một thế giới đầy tội lỗi xấu xa chỉ thấy quyền năng của quỉ dữ (satanic power) của thế quyền và thần quyền khi họ nhân danh “Thiên Tử”.

Tại sao, tại sao thế giới Tây phương đã trải qua hàng loạt phục hưng, cải cách và cách mạng từ gần 800 năm qua, mà từ hơn 2000 năm qua thế giới Đông phương, ngoài cuộc cách mạng Tân Hợi (1911), và thảm họa do cộng sản gây ra, còn lại vẫn hoàn toàn bất động trước kiếp người trầm luân não nề như thế? Từ sự bất động đó cho thấy cái xiềng xích gông cùm của văn hóa và văn minh bái vật của đại Tần, đại Hán của phương Bắc đã xử dụng cái trật tự quân thần và đạo vua tôi để chính thống hóa và hợp pháp hóa và đạo lý hóa sự cùm kẹp tư tưởng của người dân Đông phương, khiến không còn một ai vùng vẫy được bởi vì tinh thần tôn quân đã trở thành truyền thống và tín ngưỡng tự ngàn xưa, một thứ tín ngưỡng (belief) nên chẳng có mấy ai dám thắc mắc vì sợ lỗi đạo quân thần và đạo vua tôi. Chính vì lẽ đó mà vấn đề thần quyền và thế quyền chẳng bao giờ được để cập hay thảo luận; còn DÂN QUYỀN thì chẳng ai dám nghĩ đến – bởi vì tâm hồn và trí tuệ của con người đã bị cái gông cùm văn hóa bái vật giam hãm trong tù ngục tư tưởng nên đứng trước trật tự quân thần và đạo vua tôi do tính khí phàm phu tục tử của con người làm ra mà lại cứ tưởng là “đạo lý” của “thánh nhân” nên bao nhiêu thế hệ vua quan và sĩ phu đất Việt đã duy trì và bảo vệ như một thứ tín ngưỡng của dân tộc Việt.

Ngoài ra những hình phạt dành cho các tội khi quân có thể dẫn tới hình phạt tru di tam tộc hay cửu tộc đã gây khiếp đảm kinh hoàng trong tất cả các chế độ quân chủ chuyên chế và phong kiến tại Đông phương. “Quân xử thần tử, thần bất tử bất trung” đã trở thành luật định và trở thành đạo lý của quốc gia – chỉ vì các vua đều là “Thiên Tử” nên chống lại mệnh lệnh của vua là chống lại trời đất. Đó là chỗ tai hại của tinh thần tôn quân đến độ mù quáng.

Đây mới đúng là chế độ THẦN QUYỀN của Đông phương do các vua nắm giữ (oriental royal theocracy). Và vì lẽ đó muôn dân cũng chẳng ai dám nghĩ hay mơ đến DÂN QUYỀN . Gần như tất cả các dân tộc Đông phương đều tin vào thuyết tiền định (pre-destination) nên thường sống gục đầu cam chịu với số phận và mỗi khi nghĩ đến vua quan thì đều tin những người đó đã được “mệnh trời” sắp đặt cả rồi. Con người sống với kiếp trầm luân đọa đày qua bao thế hệ và qua bao thời đại trong suốt hơn 2000 năm mà lại tự coi như điều tự nhiên mà “định mệnh đã an bài” cho số kiếp con người.

Trên tầm mức quốc gia, trong tất cả các triều đại thì Tần, Hán, Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh, hay Tề, Sở, Ngụy, Yên, Triệu, Việt, trong triều đình của các “Thiên Tử”, cảnh tranh danh đoạt lợi và tranh quyền trên “ngôi báu” luôn luôn là một đấu trường hung hãn khốc liệt và đẫm máu liên tục suốt bao ngàn năm. Con giết cha, vợ giết chồng, anh em giết nhau để tranh đoạt ngôi báu như những kẻ tử thù. Thế mà muôn dân vẫn phải “thờ vua” hay sao?

TẤT CẢ NHỮNG GIÁ TRỊ CAO QUÝ NHẤT CỦA NHÂN BẢN HOÀN TOÀN BỊ MẤT MÁT CHÔN VÙI TRƯỚC QUYỀN NĂNG QUỶ DỮ CỦA NHỮNG NGƯỜI NẮM QUYỀN CAI TRỊ DÂN.

Tất cả những giá trị nhân bản và những giá trị của đời sống đều đã bị đè nén, phỉ báng, lăng nhục, cuối cùng dẫn đến chỗ biến kiếp nhân sinh của con người thành một thế giới hoàn toàn phàm phu tục tử. Đạo lý bị đánh tráo, khuôn thước bị bẻ cong, công lý bị chôn vùi, lý tưởng bị riễu cợt, nhân tâm ly tán làm sao tránh được?

Trên mảnh đất bao la đó, những hạt giống nhiệm mầu của đạo lý Tam giáo và Thánh Kinh Cựu Ước và Tân Ước đã gieo xuống tâm điền của những con người nắm quyền cai trị dân và đa số con người suốt bao ngàn năm qua phần lớn chỉ là những mảnh đất khô cằn, những mảnh đất đầy bụi gai, hay những phiến đá lạnh lùng nên hoa trái của đạo lý không hay chưa có cơ hội để đâm hoa kết trái. Không có đạo lý và công lý con người lấy gì để sống bên nhau?

Xưa Như Lai thường dậy: “Hãy lấy ĐẠI NGÃ làm nơi nương tựa và hãy lấy GIÁO LUẬT làm đuốc soi đường, ngoài ra đừng tin vào ai cả.” Đại ngã là chân như, là chân đế, là đấng Tạo Hóa, là Thượng Đế, hay Thiên Chúa và giáo luật là kinh điển của các chính giáo, kinh điển hay lời Chúa là linh kiếm hay huệ kiếm (the sword of spirit), đó cũng là ánh sáng giác ngộ mà Đức Phật đã tìm thấy và muốn dùng cái ánh sáng đó để đưa đường chỉ lối con người đi đến bờ của đại ngã. Chính Chúa Jesus đã nói: “Các anh em là ánh sáng của thế gian. Đó là một đô thị trên đồi cao không thể bị khuất lấp được” (Mathew 5:13-16). Và Đức Phật đúng là ánh sáng trên đồi cao đó. Ánh sáng đó là ánh sáng của đấng giác ngộ.

Khi Chúa Jesus đến với trần gian, Chúa đã nói với các môn đệ: “Ta là ánh sáng thế gian, ai tin theo Ta sẽ không còn bước đi trong tăm tối nữa" (John 1:57). Vì vậy ánh sáng của Chúa Jesus chính là ÁNH SÁNG của ĐẠI NGÃ, mà đấng giác ngộ đã tìm về được và muốn chỉ cho thế nhân tìm về.

ĐÓ LÀ ĐIỂM ĐỒNG NGUYÊN VÀ ĐỒNG QUI CỦA TẤT CẢ CÁC CHÍNH GIÁO.


Vì vậy muốn tìm kiếm giáo luật thì nhìn vào kinh điển hay tìm kiếm trong TÂM của mỗi người. Từ gần 3500 năm qua, tức trước Đức Thế Tôn ra đời 1000 năm, Joshua đã dặn dân Do Thái: "cuốn sách luật này đừng bao giờ để vượt khỏi miệng lưỡi các người; mà các người nên tham thiền nhập định ngày đêm, có làm thế các người sẽ chăm chú quan sát mà theo đó mà làm vì tất cả luật đó đã được viết xuống trong tâm; cứ nơi đó mà đi đến phồn vinh; và các người sẽ thành công toại nguyện" (Joshua 1:8).

Nói tóm lại, ngày nay người dân Việt, người dân Hoa Lục và người dân của các quốc gia Đông phương đã bừng tỉnh trước cái gông cùm văn hóa tư tưởng của trật tự quân thần và đạo vua tôi của nền văn minh bái vật của đại Tần, đại Hán tròng vào cổ bao nhiêu dân tộc và xô đẩy kiếp nhân sinh của nhân thế rới xuống hố thẳm của đói nghèo và lạc hậu, hố thẳm của bất công và bất nhân, hố thẳm của tù ngục và đè nén, hố thẳm của vô luân và độc ác phũ phàng, và hố thẳm của quyền năng của ma quỷ và sự lạnh lùng chai đá của con tim của người cai trị dân, dù họ là các vua chúa hay đảng cộng sản như hiện nay.

Tất cả đã mất – MẤT TỰ CHỦ, MẤT QUYỀN LÀM NGƯỜI và QUYỀN SỐNG, MẤT TỰ DO và MẤT LUÔN KHẢ NĂNG SÁNG TẠO NÊN MẤT LUÔN SINH LỘ CHO BAO DÂN TỘC.

Kiếp nhân sinh của con người còn lại gì, còn lại gì ngoài bóng tối âm u của đạo lý của thế giới tâm linh của đời sống và bóng tối âm u của dòng sử mệnh của bao quốc gia? Vì thế thay vì ngồi than thân trách phận, hay gục đầu câm nín cam chịu như “số phận đã an bài”. Từ ngàn năm qua, con người đã đến lúc con người phải thức tỉnh đứng dậy để nổi lửa ngay trong tâm hồn và trí tuệ mình và nhìn thẳng vào cái gông cùm văn hóa tư tưởng bái vật và văn hóa vô thần kia như những kẻ nội thù đầy quyền năng của bóng tối u ám của sự chết đắng cay… Anh đã chết, chị đã chết, em đã chết và tôi đã chết – chết tất cả giá trị làm người, vì ai mà đến nỗi này? Tất cả chúng ta đều đã trải qua bao cái chết thật đắng cay và tủi nhục trong đời và chúng ta đều đã chờ đợi người nào đó sẽ đến cứu vớt chúng ta, nhưng những người mà chúng ta chờ đợi cũng đã chết – chết vì đói nghèo lạc hậu, chết vì vô minh, chết vì không còn niềm tin vào chính mình, chết vì ươn hèn khiếp nhược, chết vì hẹp hòi thiện cận, chết vì những thành kiến và định kiến lầm lạc, chết vì đời sống tinh thần và tâm linh đã phá sản, chết vì tín ngưỡng và đạo lý trá ngụy của phàm phu đội lốt nắm quyền hành thống trị con người, dù những con người đó là vua quan trong các chế độ quân chủ chuyên chế và phong kiến hay họ là những người cộng sản – tất cả đều là những con người quá phàm phu tục tử, không có một ai là thiên thần cả -- tất cả cũng đều bị bả danh lợi làm mờ mịt cả lương tri, lương năng thì đào đâu ra ánh sáng minh triết để hướng dẫn muôn dân?

Những con người đó đã lèo lái và hướng dẫn những xã hội đông đảo con người theo cái tính khí man rợ u ám của họ nên những xã hội mà họ xây dựng lên không còn ánh sáng của luật nữa, không còn ánh sáng của chân tâm nữa, không còn đạo đức, công lý không còn tình người mà chỉ còn những xung đột xâu xé triền miên. Trên những sự thật ấy, sự thất bại của nền văn minh bái vật của Trung Hoa lục địa và các chế độ quân chủ và cộng sản đã quá hiển nhiên trong lịch sử. Đó là trách nhiệm của những con người nắm quyền cai trị con người. Sự thật là qua bao ngàn năm lịch sử, nền văn minh bái vật ấy vẫn chưa đủ sức để xây dựng mối tương quan trong xã hội của con người, và cũng chưa hiểu được cứu cánh tối hậu của con người và đời sống con người là gì, cứu cánh của tôn giáo là gì và cứu cánh của chính trị là gì?

Những con người thống trị con người đó đã nắm trọn vẹn trong tay họ cả THẦN QUYỀN, THẾ QUYỀN , và DÂN QUYỀN , tức quyền lực chung của cả một xã hội (social common power), nhưng càng có nhiều quyền lực thì họ càng lạm quyền, càng lạm quyền thì họ càng sa đọa và họ đã kéo cả xã hội sa dọa theo họ mà không làm sao cứu vãn được – bởi vì tranh danh đoạt lợi, tranh bá đồ vương và tranh quyền cướp nước đã trở thành mục đích và cứu cánh duy nhất của quyền lực. Vì thế “trật tự quân thần” và “đạo vua tôi”, hay “trung với đảng và “hiếu với dân” chỉ bảo vệ quyền lợi và quyền uy của riêng đảng Cộng sản như VN và Hoa Lục đã đặt ra hiện nay cho các xã hội Đông phương. Để làm gì ? Hay chỉ tạo ra cái gông cùm văn hóa và tư tưởng khác nữa để xích hóa tư tưởng của muôn người -như đã có tự ngàn xưa - để bắt mọi người phải tôn thờ danh lợi và quyền uy, quyền lực của những người thống trị, chứ không phải để muôn người tôn thờ đạo đức và sự thánh thiện của người cai trị chân chính của dân, đúng như quan niệm của chính đạo của Tam giáo.

Con người sống trong các xã hội đó, phần đông con người phải sống cảnh sống đói nghèo và lạc hậu triền miên, nếu họ không có danh vọng và quyền lực. Trong những cảnh sống đó, nỗi khao khát và ước vọng duy nhất của con người là làm tất cả mọi điều, làm bằng mọi giá để có “chút danh” và chút quyền hành” để sống còn trong một thế giới không còn một giá trị nào khác nữa, ngoài “danh và lợi”, ngoài “địa vị và quyền uy”. Và vì thế xã hội của con người luôn luôn là một đấu trường chỉ có xung đột và sâu xé.

Vì vậy, không nên trách con người “ham danh lợi” trong những xã hội như thế mà phải thông cảm cho những con người cũng là người như chúng ta, tất cả đều quá yếu đuối và sợ hãi trước đe dọa nên dễ bị cuốn theo chiều gió trước cuộc đời trong một thế giới hoàn toàn phàm phu tục tử và bái vật ấy. Nhưng khi mọi người nhận ra được sự thật thê thảm đó thì sự thật ấy sẽ giải phóng chúng ta để chúng ta thoát ra ngoài, và đập cho tan tành cái gông cùm văn hóa tư tưởng đã xích hóa tất cả chúng ta để tìm lại tinh thần tự chủ, tự do, và khả năng sáng tạo ngay trên tuyệt lộ và tử lộ này.