Sống Lưu vong ở hải ngoại
Bùi Hạnh Nghi
1- Yếu tố tiêu cực
Cuộc sống lưu vong tại hải ngoại gồm một số yếu tố tiêu cực. Chỉ xin tóm tắt vài hoàn cảnh đặc biệt:
a.- Than ôi thói oanh liệt nay còn đâu
Phải ra hải ngoại để sống lưu vong là điều bất hạnh. Mặc dầu mấy chục năm đã trôi qua và bây giờ chúng ta đã dần quen với cuộc sống nơi đất khách, nhưng những giờ phút kinh hoàng trải qua trên đường vượt biên đã để lại trong tâm khảm những vết thẹo vẫn còn nhức nhối . Rồi tiếp đến một thời gian dài ngày đêm khắc khoải nhớ về quê cha đất tổ, mong đợi một ngày về ngày càng lùi xa, trong khi cuộc sống hiện tại so với thời quá khứ tại quê nhà chứa đựng bao nhiêu là mất mát tinh thần và vật chất như của cải, địa vị xã hội sự kính phục của những người xung quanh, sự đùm bọc cửa láng giềng chồm xóm. "Than ôi! Thời oanh liệt nay còn đâu!" Có lẽ chưa bao giờ chúng ta cảm thấy thấm thía bài thơ Nhớ Rừng của Thế Lữ đã nói đùm tâm sự mình một cách xác đáng đến như vậy. Chỉ còn niềm an ủi cuối cùng được gỏi gọn trong câu nói "chả còn thiết gì, chỉ còn biết sống vì tương lai của con cái" .
Bên cạnh cảm giác lạc lõng thua thiệt ngoài xã hội còn bị đau lòng vì không còn tìm đâu ra những giá trị tinh thân mình trân quí, đâu đâu cũng chỉ thấy tôn thờ vật chất, đề cao lòng vị kỷ và quyền lợi cá nhân. Nhưng những điểm tiêu cực trong cuộc sống lưu vong dần dà đã giảm bớt hay là biến chuyển thuận lợi. Và điều đáng mừng là đa số cha mẹ dầu thua kém con em trong việc hội nhập và việc học ngôn ngữ bản xứ vẫn thành công trong việc bảo tồn được ít nhiều truyền thống trong giáo dục gia đình, truyền lại cho con cháu nhiều đặc điểm tốt đẹp của quê hương. Ngay cả trong đời sống vật chất tuy gặp nhiều thua thiệt nhưng nhờ vào sự chăm chỉ cần mẫn cả trong những việc làm không mấy thích hợp nên đã tạo dựng được một căn bản kinh tế vững vàng và nhất là nhờ vào sự quán xuyến và tài nội trợ của các bà vợ bà mẹ Việt Nam, đã làm cho gia đình có một đời sống ổn định và tương đối sung túc.
b- Xung khắc văn hóa do nhân sinh quan dị biệt
Một điểm tiêu cực khác là sự xung khắc giữa hai nền văn hóa, văn hóa mênh mang theo và trân quí và văn hóa nơi môi trường sống mới, xa lạ và có nhiều điều chướng tai gai mắt. Trong gia đình thì sự hội nhập vào nền văn hóa mới gây xung khắc giữa vợ và chồng, giữa cha mẹ và con cái. Biết bao lần chúng ta nghe những lời than phiền - ở Mỹ nhiều hơn ở Âu châu - về một số gia đình bị đổ vỡ vì vợ hoặc chồng hội nhập quá ồ ạt trở thành vong bản, thay đổi hẳn tính tình và lối sống, nhất là người vợ đột nhiên biến dạng và Mỹ hóa tù cách tổ chức gia đình, đối xử với chồng con đến cách chưng diện, giao thiệp.
c- Xung khắc văn hóa trong vấn đê giáo dục con cái.
Xung khắc với con cái xảy ra nhiều nhất trong vấn đề giáo dục. Nhiều nét đẹp của truyền thống mà chúng ta xem là thành tố căn bản của văn hóa lại không phù hợp với đường lối giáo dục nơi quê hương thứ hai. Mặc dầu đôi khi đã chấp nhận đổi ngạn ngữ "Cha mẹ đặt đâu con ngồi đấy" thành một phương châm vừa thực tế vừa chua chát đảo ngược tôn ti trật tự ngàn đời: "Con cái đặt đâu cha mẹ ngồi đấy" , vẫn không tránh được nhức nhối trong lòng chẳng hạn khí thẩy con cháu mình nhuộm tóc vàng tóc đỏ hay trên đầu có đủ xanh đỏ tím vàng mà mình cản trở không được, chuyện hi hữu nhưng thỉnh thoảng vẫn xảy ra. May là chưa đến nỗi gặp phải cảnh đau lòng đã từng xảy ra cho một số gia đình bản xứ là một ngày nào đó cha mẹ chưng hửng nhận được bưu thiếp của con gửi về từ nơi đi nghỉ xa xôi: "Bố mẹ ơi, con vừa làm đám hỏi nơi đây. Vợ chưa cưới của con tên là Birgit. Hôm nào về nó sẽ đến chào bố mẹ " .
Và mặc dầu chúng ta đủ cởi mở và phóng khoáng để chấp nhận việc trái thuần phong mỹ tục là trai gái chưa lấy nhau đã về ở với nhau, nhưng vẫn không khỏi buồn lòng khi thấy cuộc sống chung của đôi trẻ đã đơm hoa kết trái mà vẫn không nghe đả động gì tới chuyện cưới xin. Cũng may là những xung khắc trên đây thường chỉ nằm trong khuôn khổ gia đình, ít khi phát lộ ra ngoài.
2- Những điểm tích cực
Nhưng lưu vong không phải chỉ có tiêu cực. Có rất nhiều điều tích cực mà chúng ta phải nhìn nhận là chúng đã thăng hoa cuộc đời Tôi xin kể một số lợi điểm mà mọi người có thể quan sát được:
a- Thăng hoa đời sống
Sống tại hải ngoại làm phong phú thêm đời sống vật chất và tinh thần. Tiếp cận với một nền văn hóa khác trong thế giới văn minh là cơ may làm cho tâm hồn mình thêm giàu có, vốn liếng văn hóa mình thêm dồi dào, tầm mắt mình phóng xa tới những chân trời mới . Dĩ nhiên mức độ thành công của việc này còn tùy thuộc trình độ, khả năng và quyết tâm hấp thụ của mỗi người.
b- Càng xa quê càng tăng cường ý thức về quê hương và về giá trị văn hoá truyền thống.
Xa quê rồi chủng ta mới biết được giá trị và cảm thấy tự hào hãnh diện về quê hương mình. Thường vẫn vậy, trong lãnh vực riêng tư cũng như công cộng, khi còn có trong tầm tay thì không biết quí, không biết trân trọng, mất rồi mới cảm thấy giá trị tăng lên gấp bội và lòng dấy lên một nỗi tiếc nuối muộn màng. Trong vị thế lưu vong chúng ta ý thức đậm đà hơn giá trị của văn hóa truyền thống vả cảm thấy cần phải bảo tồn và truyền lại cho các thể hệ đến sau. Truyền lại không phải bằng cách dùng quyền uy để áp đặt những nghi lễ hay những khe khắt lỗi thời mà bằng lời khuyên bảo, bằng đối thoại và nhất là bằng gương .sáng nêu cao lòng yêu mến quê hương và những nét đẹp của truyền thống, như tình gia đình thương yêu đùm bọc lẫn nhau, hiếu thảo, hy sinh vị tha, lễ độ, kính trên nhường dưới, cảm thương và giúp đỡ ủi an người bất hạnh v. v.. Bảo tồn và trau dồi di sản văn hỏa dân tộc để không những bồi đắp vốn liếng văn hóa của riêng mình mà còn đóng góp làm nền văn hóa phong phu và khởi sắc thêm.
c Thành công vượt bực của thế hệ thứ hai, thứ ba
Một lợi điểm, một sự thăng tiến rất đáng kể của cuộc sống lưu vong là không phải chạy chọt tốn kém gì mà con cái đã du học thành tài, có nhiều cơ hội phát triển và chiếm được nhiều địa vị đáng kể trong xã hội. Trong hoàn cảnh bình thường nếu còn sống tại quê nhà thì việc cho con đi du học chỉ là giấc mơ và chỉ dành cho một thiểu số có quyền thế, có tiền tài (để đút lót) hoặc là được học bổng nhờ học lực ưu tú. Sự thành công vượt bực của thế hệ thứ hai, thứ ba tại hai ngoại là đặc điểm Việt Nam lưu vong. Như tại Đức rất nhiều gia đình tuy cha mẹ không cỏ cơ hội tìm được việc làm xứng đáng với nghề cũ, phải đi làm lao công cực nhọc và bằng lòng với địa vị thấp kém thế mà đã khéo động viên con cái chăm chỉ học hành, kết quả là cả mấy anh chị em đều học thành tài người ra bác sĩ, người ra kỹ sư. Đó là một trong những điều đáng làm ta hãnh diện với giòng giống mình vì không phải lưu vong hay di dân nào cũng thăng tiến như vậy. Trái lại hiện nay tại Đức người ta đang than phiền về việc rất nhiều thiếu niên thuộc những gia đình di dân từ một số nước như Thổ Nhĩ Kỳ không đủ sức học xong bậc tiểu học hay là trung học đệ nhất cấp và dĩ nhiên là không tìm được việc làm trong một xã hội đầy cạnh tranh. Những thành phần đó tạo thành một nguy cơ xã hội trầm trọng.
d- Hoạt động văn học khởi sắc
Thêm một điều tích cực nữa là cuộc sống lưu vong đã làm ta quan tâm hơn đến ngôn ngũ và văn hóa quê hương và một số nhà văn nhà thơ, nhà chuyên khảo hay bình luận gia mới đã xuất hiện. Những người nay nếu sống bình thường trong nước có lẽ chỉ lo công ăn việc làm chưa chắc đã nghệ đến sáng tác văn chương nhưng sống tại hải ngoại với tâm thức lưu vong và ý thức được trách nhiệm đối với quê hương đã trở thành văn nhân. Trong số này đủ thứ vàng thau lẫn lộn thượng vàng hạ cám nhưng cũng có nhiều văn sĩ có tầm vóc giúp cho nền văn học hải ngoại ngày thêm phong phú. Thêm vào đó đã xuất hiện nhiều tạp chí giá trị, vừa là món ăn tinh thần bổ ích, vừa nhắc nhở đồng hương bảo tồn văn hóa quê hương và đừng quên tranh đấu cho nhân quyền và tự do dân chủ.
e- Hiệp hội chuyên ngành đua nhau chào đời
Nhiều hiệp hội chuyên ngành đã được thành lập để trao đổi suy tu về những nhu cầu của quê hương hậu cộng sản và đang cùng nhau tìm giải pháp thích ứng cho nhiều lãnh vực như hành chánh, kinh tế, y tế, luật pháp, hiến pháp, thể chế chính trị, giáo dục v.v. Những phương sách tuy còn chưa được hoàn bị và sẽ còn phải thích nghi với hoàn cảnh lúc thời cơ đến nhưng ít ra cũng đàn dựng được một cái khung để từ đó đề ra những công tác cụ thể, thiết thực.
Nói tóm lại lưu vong là một tình trạng đáng buồn và rất tiêu cực, nhưng nếu sáng suốt và quả cảm chúng ta vẫn có thể chuyển bại thành thắng, hay ít ra thực hiện được những điều hữu ích và cần thiết cho quê hương bây giờ và sau này.
3- Hội nhập
a- Hội nhập trong đời sống thường nhật
Nói đến lưu vong không thể không bàn đến vấn đề hội nhập. Hội nhập là một vấn đề thời thượng nóng bỏng không chỉ đặt ra cho những người thực sự lưu vong như chúng ta mà còn cho các người thợ khách tại Âu châu không bị cấm cản trở về quê hương nhưng sống lâu đời và muốn định cư lâu dài tại đây. Vấn đề hội nhập của những tín đồ Hồi giáo đang làm một số nước Âu châu điên đầu với những vụ sát nhân "vì danh dự" (giết em gái vì em gái có lối sống âu hóa hay là kết hôn với người "ngoại đạo", làm phương hại đến thanh danh gia đình). Đó là chưa nói đến những phần tử Hồi giáo quà khích đang có mưu đồ khủng bố đang là bom nổ chậm ngay trên đất nước đã và đang cưu mang họ. May mắn cho người V/ệt chúng ta là không có vấn đề đó. Nhìn chung hội nhập của người Việt Nam trên khắp thế giới diễn tiến tốt đẹp.Đâu đâu cũng nghe khen người Việt Nam rất uyển chuyển biết thích nghi, và rất lịch thiệp trong cách giao tế.
Có lẽ nhờ vào Việt Nam đã hấp thụ và khai triển những luồng văn hóa đến từ nhiều nơi trong suốt chiều dài lịch sử nên dầu thuộc tầng lớp nào cũng có nếp sống rất văn hóa và khả năng thích nghi rất lớn và hội nhập rất nhanh. Mọi nước trên thế giới đều phải công nhận khả năng này và người Việt Nam nói chung được xem là thành phần ngoại quốc dễ thương và ít gây rắc rối nhất, đã thành công trong việc hội nhập theo nghĩa "nhập gia tùy tục", trong nếp sống và cung cách xử sự giao tế không gây xáo trộn, tránh làm mất lòng người khác.
Nhưng hội nhập không phải chỉ có vậy mà còn là hội nhập văn hóa (như hiểu biết về văn chương, lịch sử, luật pháp v.v. nơi mình cư ngụ). Đối với thế hệ thứ nhất còn gặp nhiều khó khăn vì rào cản ngôn ngữ không vượt được, nhất là tại Đức, dần dà đành chịu thua và không còn xem hội nhập văn hóa là cần thiết. Chúng ta phải tìm cách tăng cường công tác dịch thuật để giúp đồng hương vượt qua rào cản ngôn ngữ. Đó đây đã có một số anh chị em làm rất thành công nhưng còn ít ỏi .
b-hội nhập văn hóa hai chiều, lĩnh hội và cống hiến
Trên bình diện văn hóa, hội nhập gồm hai yếu tố: Vừa lĩnh hội những đặc điểm văn hóa của người bản xứ và áp dụng một cách linh động mềm dẻo vào hoàn cảnh mình vừa giới thiệu với người bản xứ những tinh hoa đặc thù của mình. Nghĩa là hội nhập không thể là con đường một chiều mà là sự trao đổi hai chiều trong sự tương kính. Hội nhập là hòa hợp những yếu tố tốt đẹp của cả đôi bên. Nhưng nếu xem hội nhập là cuộc trao đổi hai chiều, vừa hấp thụ vừa cống hiến, có lẽ còn phải chú trọng và nỗ lực nhiều hơn trong việc rất khó khăn là giới thiệu tinh túy nước mình (văn chương, nghệ thuật, văn hóa truyền thống) đến người bản xứ mà không chỉ hạn chế vào việc trình diễn áo dài hay là ca vũ dân tộc và nghệ thuật ẩm thực, mặc dầu chúng cũng là những hoạt động văn hóa quan trọng và dễ tiêu thụ hơn đối với đại đa số quần chúng bản xứ.
c- Trách nhiệm đặc biệt đối với thế hệ đến sau
Một trách nhiệm đặc biệt của đời sống lưu vong là truyền lại cho con cháu những nét đẹp của truyền thống quê hương. Muốn truyền đạt lại cho con cháu trước hết chính mình phải hấp thụ được và đã thấm nhuần truyền thống trong cách suy tư, trong lối diễn tả và trong lối sống.
* Chúng ta có thực sự yêu mến và trân trọng truyền thống không?
* Chúng ta đã và đang làm gì để trau dồi di sản văn hỏa nòi giống trong chúng ta, trong con cháu chúng ta và trong cộng đồng, ngoài việc duy trì một số lễ nghi rườm rà phức tạp?
Nói đến di sản văn hóa phải chú trọng vào văn chương bình dân vốn là một kho tàng văn hóa với nhiều bài học luân lý cổ truyền còn lâu đời hơn truyền thống Khổng Mạnh là một phương tiện giáo hóa rất phong phú, truyền đạt văn hóa đặc thù của cha ông chúng ta qua nhiều thế hệ. Nhờ văn chương bình dân mà những người không được may mắn học hành đã tự tạo cho mình một vốn liếng văn hóa rất khả quan . Ai trong chúng ta đã không từng chứng kiến cảnh một bà mẹ quê chưa từng cắp sách đến trường mà mở miệng là tuôn ra từng tràng ca dao tục ngữ mà đặc biệt là câu nào cũng ăn khớp với điều mình đang nói . Một nghệ thuật trích dẫn còn điêu luyện hơn nhiều nhà văn chuyên nghiệp . Ai trong chúng ta đã không từng bực mình khi đọc cách trích dẫn của một số nhà văn, không ăn nhập gì đến chuyện họ đang viết, nghe như đàn ngang cung.
Việc bảo tồn văn hóa không thể không chú trọng đến văn chương bình dân. Riêng tôi mỗi lần có dịp giới thiệu văn chương nước mình đến người ngoại quốc tôi đã không quên ca tụng văn chương bình dân và còn nói thêm một cách không quá đáng rằng cứ xem văn chương bình dân thì đủ biết người Việt chúng tôi ai cũng là thi sĩ chỉ tiếc là chưa được đánh thức và chưa phát hiện được tiềm năng thi sĩ của mình. Trong địa hạt đối thoại trên văn hóa thì việc giới thiệu văn chương bình dân đến người ngoại quốc là việc không thể thiếu.
4- Phát huy văn học lưu vong
Nhìn vào lịch sử văn học của một số dân tộc, nhiều trí thức lưu vong đã cùng nhau gầy dựng được một nền văn học hải ngoại rất đồ sộ chẳng hạn như nước Đức trong thời gian lánh nạn độc tài Đức Quốc Xã. Nhiều văn sĩ lưu vong Đức tên tuổi đã tạo được những tác phẩm đặc sắc vừa phản ảnh thân phận lưu vong vừa góp phần hữu hiệu vào nỗ lực chống độc tài.
Trong số này phải kể những nhà văn lừng danh thế giời như Bertolt Brecht (1898-1956),Alfred Doeblin (1878-1957), Heinrich Mann (1871-1950), Thomas Mann (1875-1955), Erich Mang Remarque (1898-1970) v v Heinrich Mann, bào đệ của Thomas Mann, cho rằng chỉ có văn chương (lưu vong) chống phát xít mới đang được gọi là văn chương Đức với 2 nhiệm vụ: Phơi bày cho thế giới bên ngoài biết sự thật về Đức Quốc xã và yểm trợ lực lượng đối kháng trong nước. Thiết nghĩ chúng ta cũng có thể dùng nhận xét trên của Heinrich Mann làm phương châm hoạt động trong công tác văn học lưu vong.
Các nhà văn lưu vong Đức lúc đầu còn hoạt động riêng rẽ, dần dà nhận ra rằng phải kết đoàn lại hoạt động văn chương chống phát xít mới hữu hiệu. Nhà văn Klaus Mann, con của Thomas Mann, đã sớm cho ra đời một tạp chí mang tên "Die Sammlung" (Qui tụ) nhằm kết hợp các nhà văn lưu vong cùng chí hướng chống độc tài phát xít. Trong vòng 12 năm biệt xứ (1933-1945), các nhà văn Đức lưu vong đã cho ra đời hơn 400 tạp chí. Nhà văn nổi danh quốc tế Bertold Brecht đã không giới hạn công tác chống độc tài vào hoạt động văn chương mà đã cùng với đồng nghiệp Becher vận động thành lập một liên minh quốc tế chống phát xít.
Văn sĩ lưu vong của chúng ta cũng đã kết thành nhiều nhóm với nhiều tạp chí và tác phẩm, nhưng thành quả hoạt động không đồng đều. Có nhóm như Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại thành viên của tổ chức uy tín Văn Bút Quốc Tế được sáng lập với biết bao kỳ vọng, nhưng cuối cùng lại phá phách xâu xé nhau đến nỗi nói đến Văn Bút Việt Nam ai biết chuyện cũng lắc đầu chán ngán. Riêng về lãnh vực kinh tế, một số kinh tế gia lưu vong Đức đã nghiên cứu và bàn thảo tường tận về việc tạo dựng một nền kinh tế hậu Hitler. Đặc biệt là lý thuyết về kinh tế thị trường xã hội đã được soạn thảo và hoàn bị tại hải ngoại bởi một số kinh tế gia lỗi lạc mà ngày nay giới thức giả quốc tế vẫn còn truyền tụng. Mô hình kinh tế thị trường xã hội đã được áp dụng ngay sau khi Hitler bại trận và đã mang đến cho nước Đức cái mà người ta thường gọi là phép lạ kinh tế.
Nhìn rộng hơn ra ngoài thế giới ta thấy vô số nhà văn nhà thơ lưu vong từ nhiều nước khác lấy việc chống độc tài làm chủ đề sáng tác và đã tạo được những tác phẩm tuyệt vời. Đặc biệt nhất là Alexander Solsehenizyn. ông đã viết cuốn Archipel Gulag thời còn sống tại Liên Xô và đã tìm cách gửi lén được tác phẩm ra ngoài mặc dầu KGB dùng mọi biện pháp để ngăn chặn. Được xuất bản tại hải ngoại Archipel Gulag đã làm chấn động dư luận thế giới như một quả bom nguyên tử. Sau đó ông bị trục xuất khỏi nước vào năm 1974. Nhờ tác phẩm này mà thế giới bớt bị mê hoặc bởi thủ đoạn tuyên truyền dối trá và có được một khái niệm xác thực hơn về Cộng Sản Liên Xô. Solschenizyn đã trở về quê hương dưới thời Mikhail Gorbachew. Ông vừa tạ thế ngày 3 tháng 8, 2008 tại Nga.
Các nhà văn kể trên và vô số các nhà văn khác đã nêu cao tấm gương sáng cho chúng ta noi theo trong việc dùng công tác văn hóa phục vụ dân chủ. Ngoài ra nhà làm văn hóa còn có thể gián tiếp phục vụ dân chủ bằng cách giúp đỡ và tranh đấu cho những người tù lương tâm vì kêu gọi và đòi hỏi tự do mà bị giam cầm, bị đàn áp. Công việc tranh đấu cho tù nhân lương tâm mang nhiều ý nghĩa: vừa thể hiện tinh thân liên đới với những người ngộ nạn vừa đấu tranh cho dân chủ. Riêng đối với chúng ta thì đó là một công tác hiện nay cần thiết hơn lúc nào hết.
Thay lời kết
Hai khía cạnh lưu vong được phân tích trên đây nhằm đưa đến một kết luận, hay nói đúng hơn, một câu hỏi thực tiễn: phải chăng thân phận làm người lưu vong trong cuộc đời trần thế nhắc nhở ta phải sống thế nào cho trọn đạo làm người để mai ngày khi kết thúc cuộc lữ hành được trở về quê hương diễm phúc. Và ta phải làm gì trong giai đoạn lưu vong chính trị để chu toàn trách nhiệm của người lưu vong đối với chính mình và với dân với nước?