Kết toán 8 năm cầm quyền (20-01-2001 - 20-01-2009)
TT. George W Bush và nhân quyền tại Việt-Nam
ThanhTran
Đa số người gốc Việt ở Hoa kỳ đều cho rằng Chính quyền dưới sự lãnh đạo của đảng Công hòa đều hỗ trợ mạnh mẽ vấn đề dân chủ nhân quyền cho Việt nam để dần dần đi đến giải thể chế độ cộng sản đang ngự trị nơi xứ sở nầy. Họ có lý khi tin tưởng như thế vì 15 năm sau ngày 30-4-1975 các chế độ cộng sản Đông Âu rồi Liên xô lần lượt sụp đổ dưới thời hai Tổng thống thuộc đảng Cộng hòa. Đó là các Tổng thống Ronald Reagan và Tổng Thống G. Bush (Bush cha). Đặc biệt dưới thời Tổng Thống Bush cha, huyền thọai đánh Mỹ và thắng Mỹ do Việt cộng tuyên truyền rất thành công (1) đã đổ vỡ khi vệ binh công hòa Iraq thua đậm rồi sau đó ít lâu cờ Sa hoàng cắm lên điện Kremli chấm dứt chế độ Xô viết ngự trị nước Nga từ 7-11-1917.
Ý niệm kể trên vẫn còn được tỏ bày qua quan điểm của một cựu sĩ quan phòng không Liên xô ở Bắc Việt năm 1967. Viên cựu sĩ quan nầy năm nay 70 tuổi kể rằng năm đó chính súng phòng không do ông điều khiển đã bắn hạ máy bay của phi công John Mc Cain rồi ông nói tiếp may mà ông Mc Cain không đắc cử Tổng Thống Hoa kỳ. Ý viên cựu sĩ quan nầy muốn nói chính quyền do đảng cộng hòa lãnh đạo có chính sách đối ngọại cứng rắn so với chủ trương hòa hoãn của đảng dân chủ.
Song dần dần người ta thấy chính sách đối ngoại của Hoa kỳ đối với thế giới là chính sách lưỡng đảng. Chính quyền do đảng cộng hòa hay đảng dân chủ lãnh đạo đều dùng đối sách cây gậy và củ cà rốt. Nói môt cách khác mọi phương tiện đều tốt miễn sao phục vụ quyền lơi nước Mỹ. Chẳng hạn dưới thời Tổng Thống Lyndon Johnson (đảng Dân chủ ) có lúc nghĩ tới dùng đến võ khí nguyên tử với Trung Hoa cộng sản nếu chiến tranh Trung-Nhật xẩy ra, Tổng thống Nixon (đảng cộng hòa), kế nhiệm Tổng thống Johnson, đi thăm Trung Quốc mở đầu trang sử mới về bang giao Mỹ-Trung kể từ năm 1949. Tổng Thống Jimmy Carter (đảng dân chủ) tẩy chay Olympic Moscow 1980 khi Liên xô xâm lăng Afganistan sau đó các nước Châu Âu làm theo Mỹ. Trái lại năm 2008 Tổng Thống G.W Bush (đảng Cộng hòa ) vẫn đi dự Olympic Bắc kinh mặc dù Trung Quốc đàn áp dân Tây Tạng, bắt bớ các nhà đối lập, kiểm duyệt Internet v.v…
Còn ngày 20-01-2009 tới đây Tổng Thống G.W. Bush trở về vui thú điền viên sau hai nhiệm kỳ 20/01/2001 – 20/01/2009 mà không mang tiếng là một “con vịt què”, hoang phí, ngang ngược, sát quân, ngớ ngẩn vì công tâm mà nói thì trong thời gian chuyển quyền 5/11/2008 - 20/01/2009 Tổng thống và nội các cùng quốc hội sắp mãn nhiệm làm việc không ngừng nghỉ. Ngoại Trưởng Condoleeza Rice hôm chủ nhật 28-12-2008 nói với hãng truyền hình CBS: “Thế hệ sau sẽ biết ơn Tổng Thống thứ 43 về những việc làm của ông” .
Mặc dù người tiền nhiệm trao gánh nặng cho Tổng Thống tân cử Obama: đó là cuộc khủng hoảng tài chánh ở Mỹ lan ra khắp toàn cầu, chiến tranh còn tiếp diễn ở Afganistan, vấn đề Iraq còn chưa yên, gần hết năm 2008 rồi mà cuộc chiến xẩy ra giữa Do thái và phe Hamas ở Gaza, ngòi nổ của một cuộc chiến khác có thể xuất phát từ Iran, chiến tranh còn có thể bùng nổ giữa Ấn Độ và Pakistan v.v.. , nhưng nước Mỹ vẫn bình yên sau September 11/2001, kinh tế phát triển từ 2001-2006. Còn đà suy thoái kinh tế hiện nay không do Chính quyền Bush (Đảng Cộng hòa) hoang phí, gây ra chiến tranh Iraq (2) mỗi ngày tốn 9 tỉ USD và người ta dự đoán chu kỳ phụchồi kinh tế bắt đầu cuối năm cuối năm 2009. Dự đoán nầy có trước ngày 4-11-2008.
Về mặt đối ngoại thì bên Tây Âu có phong trào bài Mỹ nhất là ở Pháp, bù lại Tổng thống G.W. Bush được hoan nghênh ở Đông Âu như Ba lan, Tiệp khắc, Georgia, Ukraina vì Ông Bush đã thực hiện thông điệp tự do dân chủ cho các quốc gia nầy như cách mạng hoa hồng, cách mạng màu cam, Liên bang Nga tuy căm ghét nhưng vẫn nể nang, người ta còn thấy tối 4-11-2008 giờ Hoa kỳ, ngay khi vừa có kết quả bầu cử Tổng Thống, thì Tổng Thống Nga lên tiếng như dằn mặt người sắp lãnh đạo nước Mỹ.
Cũng nói về vấn đề đối ngoại thì trong bài diễn văn nhậm chức nhiệm kỳ II ngày 20-01-2005 Tổng Thống G.W. Bush đã nói đến Dân chủ, Nhân quyền như sau: “…. Tất cả những ai đang sống dưới chế độ độc tài và tuyệt vọng có thể hiểu rằng Hoa kỳ sẽ không làm ngơ trước sự đàn áp; hay tha thứ cho những kẻ áp bức các bạn. Khi các bạn đứng lên đấu tranh cho tự do, chúng tôi sẽ đứng chung cùng các bạn ….”
Nội dung trên đã được chính quyền Bush thực hiên đến mức độ nào đối với châu Á trong đó có Việt Nam. Với Việt Nam dưới chế độ cộng sản, Hoa kỳ không quan tâm nhiều đến vấn đề dân chủ, nhân quyền trong quá trình giúp Việt Nam hòa nhập hoàn toàn với cộng đồng thế giới. Từ khi thiết lập bang giao với Hà nội năm 1995 đến nay, Hoa kỳ thường khuyến cáo hoặc tổ chức hội nghị tay đôi về vấn đề mà Hà nội gọi là nhạy cảm như dân chủ nhân quyền. Phía Hà nội thì họ luôn luôn hứa hẹn cho qua chuyện khi được việc rồi thì họ thẳng tay đàn áp và tù đày những nhà dân chủ đối lập vì lương tri mà phản kháng bất bạo động. Đối với cộng đồng người Việt ở hải ngọai, chính quyền (qua các Đại sứ Hoa kỳ ở Việt Nam) khi tiếp xúc với đại diện tập thể nầy khi thì lắng nghe nguyện vọng , khi thì khuyên để quá khứ ra phía sau, hướng về tương lai, khi thì nêu chủ trương đối thoại để chuyển hóa từ độc tài toàn trị đến dân chủ pháp quyền; hoặc nói rõ ra vì quyền lợi nước Mỹ nên đừng thắc mắc cách Bộ Ngoại giao hành xử vấn đề vấn đề mà Hà nội gọi là nhạy cảm.
Đó chỉ là phương tiện mà thôi (3). Cho nên người ta không lấy làm lạ hay buồn lòng khi Hạ viện Mỹ hai lần với đa số phiếu áp đảo trên 400 phiếu vẫn không qua được ải Thượng viện. Đó là cách tránh cho Hành Pháp phải khó xử nếu Tổng Thống dùng quyền phủ quyết và sẽ không phủ quyết nổi với tỉ số 400/535 (giả sử 100 Thượng nghị sĩ đều bỏ phiếu ngược với 400 dân biểu Hạ Viện). Mùa hè năm 2000 Thống Đốc G. W. Bush đi vận động trong một cuộc bầu cử sơ bộ của Đảng Cộng hòa, cộng đồng người Việt mời Thống Đốc đến khu Phước Lộc Thọ và Thống Đốc đã đến, suốt buổi nói chuyện đó ông chỉ trình bày những vấn đề về kinh tế, an sinh xã hội, giáo dục, y tế…
Cộng đồng mời ông đến vì hy vọng ông sẽ như Tổng Thống Ronald Reagan hay Ông Bush cha sẽ làm các chế độ tòan trị ở Á châu cáo chung , người ta có quyền hy vọng chứ. Nhưng hơn bốn năm trước đây 2004 (thời gian tranh cử với Thượng nghị sĩ John Kerry ông Bush đã nói những điều làm cộng đồng buồn lòng đại để Nam Việt Nam trước 1975 đã có tự do mà không biết trân quí gìn giữ. Mặc dù số phiếu của cử tri gốc Việt hiện giờ chỉ là yếu tố làm ly nước tràn đầy mà thôi, như ở Florida ông Bush hơn ông Gore 540 phiếu phổ thông và chiếm 27 phiếu cử tri đoàn. Với 27 phiếu cử tri đoàn ông Bush vượt qua 270 phiếu cử tri đoàn để trở thành Tổng Thống thứ 43 của Hoa kỳ. Người ta có thể cho rằng 540 phiếu phổ thông đó là của người gốc Việt (người Việt định cư ở Florida có thể lên đến hàng chục ngàn). Trong những năm tháng vui thú điền viên sau 20-01-2009 ông Bush có lúc cũng nhớ đến con số 540 và tòa án Tối cao (Liên bang) không xét đến khiếu nại của phe ông Gore về sự phán quyết của Tòa dưới. Do đó người ta ví von: Tối Cao Pháp Viện Hoa kỳ đã tặng ghế Tổng Thống cho Ông Bush .
Cho nên dù nhớ hay quên những lá phiếu tạm gọi là ân tình đó, Ông Bush vẫn phải kế tục và thực hiện lộ đồ bang giao với Việt Nam cộng sản trong mưc đích đưa xứ sở nầy hòa nhập với cộng đồng thế giới. Trên lộ trình đó Tổng Thống Bill Clinton đã thực hiện hai viêc quan trọng và cơ bản: năm 1995 thiết lập bang giao rồi khai tương Tòa Đại sứ Hoa kỳ ở Hà nội, cuối năm 2000 ký hiêp ước thương mãi song phương BTA. Hiệp ước nầy có hiệu lực từ 10 tháng 12 năm 2001.
Từ đó đến nay trao đổi hai bên lên đến 9 tỉ USD. Sau September 11/2001 Hoa kỳ kéo Trung quốc và Việt Nam vào hợp tác chống khủng bố. Trung quốc đã lợi dụng chống khủng bố để đàn áp những người bất đồng chính kiến trong nước; bắt bớ tù đày những người sắc tộc Tân cương, Tây Tạng mà Công sản Trung quốc gán cho là ly khai, là bạo loạn. Cộng sản Hà nội cũng lạm công việc tương tự như áp chế các nhà dân chủ, trấn áp các cuộc biểu tình vì lòng yêu nước phát xuất từ sự căm ghét chính quyền quá khiếp nhược để mất đất, mất biển .
Có thể nói song song với việc liên kết với chính quyền cộng sản Hà nội trên mặt trận chống khủng bố, Tổng Thống G.W. Bush đã hoàn thành lộ trình bang giao Mỹ-Việt. Quan hệ hai nước trở nên tốt đẹp hơn bao giờ hết qua những việc làm sau đây như tưởng thưởng cho chế độ:
1. Rút tên Việt nam ra khỏi danh sách những nước cần quan tâm CPC trước khi ông Bush sang dự hội nghị Apec ở Hà nội cuối năm 2006.
2. Cùng thời điểm đó Việt Nam được gia nhập WTO mà Hà nội đã nộp đơn xin gia nhập từ 1995.
3. Hoa kỳ hứa đào tạo nhân lực (giáo dục) chuẩn bị giai cấp lãnh đạo năm 2020.
4. Viêt Nam trở thành hội viên không thường trực trong hôi đồng Bảo An trong hai năm 2008 và 2009.
5. Về quan hệ thương mãi Hoa kỳ còn hứa cho Việt Nam miễn thuế quan đến 4000 mặt hàng.
6. Thông cáo chung Washington giữa Tổng thống G.W. Bush - Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng xác định các điểm căn bản: quan hệ hợp tác toàn diện về an ninh và kinh tế. Về an ninh thì Mỹ ủng hộ sự toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, về biển đông Mỹ yêu cầu tôn trọng luật về lãnh hải do LHQ ban hành. Về kinh tế Mỹ hẫu thuẫn công ty Exxon Mobil làm ăn với Petro Việt Nam.
Do đó chính quyền cộng sản Hà nội nên bắt chước Kosovo thuộc bán đảo Balkan mà tri ân hai Tổng thống Bill Clinton và G.W Bush vì nhờ Khuynh hướng đối ngoại của Hoa kỳ đầu thế kỷ 21 (trong đó không quan tâm đến thể chế cộng sản còn ngự trị nơi các quốc gia Trung Quốc, Việt Nam, Bắc hàn, Lào và Cuba) mà chế độ toàn trị ở Việt Nam vững mạnh (4). Thế nhưng họ, Hà nôi, vẫn than thở Mỹ giầu mà không hào phóng, đại để Mỹ nuốt lời không bồi thường chiến tranh, chỉ trao cho hai cái bánh vẽ WB và IMF; nào là Mỹ góp vốn ODA nhiều nhất thế giới nhưng vốn ODA đổ vào Việt Nam Mỹ chỉ đứng thứ 11, họ còn khó chịu khi Hạ viện Mỹ thỉnh thoảng lại nêu vấn đề dân chủ nhân quyền.
Từ đó nên phân biệt: tình cảm của đại đa số hơn 80 triệu dân Việt với các lãnh đạo Hoa kỳ đến Việt nam và tình cảm của 3 triệu đảng viên cũng như tập đoàn tư sản đỏ (luôn luôn dành độc quyền thân Mỹ) dành cho các vị như thế nào.
Còn hai Tổng Thống Bill Clinton và G.W Bush đáp lễ ra sao.
Cuối năm 2000 Tổng thống Bill Clinton được dân Hà nội nồng nhiệt chào đón từ sân bay Nội bài về đến khách sạn dành cho Quốc khách dưới trời khuya và giá lạnh của mùa đông đất bắc. Đám người tụ tập hai bên đường chờ đợi dầu cho chính quyền không nhiệt thành cho lắm. Tổng Thống đã đáp lễ bằng cách nhoài người ra ngòai vẩy tay chào đáp trả với chân tình, những ngày kế tiếp ở Hà nội Tổng Thống dành thì giờ thăm dân. Trong cái không khí thân thiện và đằm thắm đó người ta khó tưởng tượng rằng hai nước đã có cuộc chiến khốc liệt hơn hai thập niên trước. Vào đến Saigon, thủ đô cũ của VNCH ngày trước, Tổng thống cũng được dân đón tiếp nồng hậu không kém từ Tân sơn nhất đến khách sạn New World. Xuất phát từ một sinh viên thiên tả và phản chiến nhưng khi đến Việt nam trên cương vị Tổng Thống, ông Bill Clinton không có lời nói hay việc làm mang tính cách o bế các lãnh đạo chính quyền Hà nội trong những lần xuất hiện chính thức. Đó là bài diễn văn đọc ở Đại học Quốc gia Hà nội, nội dung bài diễn văn là nhắm đến lớp trẻ sinh sau 1975, đó là cách nhắc nhở mọi người hướng về tương lai.
Tổng Thống có nói đến lịch sử bang giao Mỹ-Việt khi ông nhắc lại vào cuối thế kỷ 18 Mỹ có ý định mua gạo của Việt nam (danh xưng thời đó là Đại Việt ở Đàng Trong). Vì trong thời gian sống ở Pháp Hoàng tử Cảnh giới thiệu với Đaị sứ Mỹ ở Paris là Thomas Jefferson (Sau nầy là Tổng Thống thứ 3 của Hoa kỳ) giống lúa ỏ miền nam. Đó cũng là cách nhắc khéo cho đảng cộng sản Hà nội rõ là bang giao Mỹ-Việt khởi đầu trước cách mạng Pháp 1789 chứ không phải bắt đầu từ 1944-1945 khi ông Hồ cộng tác với OSS, tiền thân của CIA.
Với Tổng Thống G.W. Bush cuối năm 2006 cũng thế, dân Hà nội luôn hoan nghênh chờ đón vị Tổng Thống thứ hai đến thăm Việt Nam kể từ cuối năm 2000, nhưng họ đâu có được nhìn và chào đón trên đường di chuyển của Tổng Thống. Họ bị cách ly vì lý do an ninh, vì ý muốn của chính quyền là làm đẹp mặt hội nghị Apec Hà nội 2006. Tại Saigon cũng thế Tổng Thống cũng không dừng chân thăm dân đang chờ đợi khi đoàn xe đưa Tổng Thống đến trước cổng khách sạn New World. Có thể nói trong thời gian dự Hội nghị Apec và thăm Việt Nam, ngòai việc tưởng thưởng cho chế độ, Tổng thống cùng Chủ tịch Hồ cẩm Đào như tranh nhau lấy cảm tình với lãnh đạo đảng cộng sản ở Hà nội. Ông Hồ Cẩm Đào thì đặt vòng hoa ở lăng Hồ chí Minh; ông G.W Bush thì đứng khá lâu dưới chân dung ông Hồ ở Bắc Bộ Phủ. Ngoài những buổi họp chính thức với các giới chức quốc tế tới dự hội nghị hay với giới lãnh đạo chính quyền Việt nam, Tổng Thống chỉ tiếp xúc và có những cử chỉ thân mật với đám “đầy tớ của nhân dân “ (5) mà thôi. Cũng nên thông cảm cho Tổng Thống vì những lý do sau:
- Hoa kỳ cũng như các nước đang làm ăn với Việt Nam đều mong Quốc gia nầy được ổn định về chính trị trong đó đương nhiên có chuyện không quan tâm đến dân chủ nhân quyền ngoài những khuyến cáo.
- Hoa kỳ hay các quốc gia trong vùng đều mong Việt nam có vai trò đối trọng giữa hai thế lực: một bên là Trung quốc và bên kia là các nước Đông Nam Á.
- Tổng Thống G.W. Bush ước mong sau khi gia nhập WTO Việt Nam dần dần trở thành tiểu long hay tiểu hổ về kinh tế.
- Trong tương lai vào 2008 Mỹ-Việt lập cơ chế đối thoại mới về chính trị, quốc phòng và chính sách nhằm trao đổi chiến lược và an ninh .
- Đối với Hoa kỳ thì chiến lược làm ăn ở Việt Nam được tính toán về trung hạn và dài hạn khác với cung cách làm ăn một số nước tại Viêt nam là dựa vào nhân công rẻ và cùng nhau làm hại môi sinh, môi trường.
Sau cùng trong tương lai gần, sau 20-01-2009 Tổng thống G.W Bush dành thời gian để làm chủ tịch viện Nghiên Cứu Tự Do. Trên cương vị nầy Tổng Thống sẽ tổng kết những việc đã làm được cũng như những việc chưa làm được về dân chủ nhân quyền cho Châu Á trong đó có Việt Nam. Vì Tự Do và Con Người gắn bó nhau như hình với bóng nên Tổng Thống có thể so sánh những người Việt hay gốc Việt mà Tổng thống đã tiếp xúc. Chẳng hạn người Mỹ gốc Việt ở Phước Lộc Thọ, Nam California đón ứng cử viên Tổng Thống G.W. Bush và Tổng thống thứ 43 Hoa kỳ tiếp xúc thân mật với đám “đầy tớ cuả nhân dân “ ( 6 ) ở Saigon năm nào. Còn đối với các nhà lãnh đạo của nước CHXHCN Việt Nam Tổng Thống cũng nên làm một so sánh: Tổng Thống chào đón Chủ tịch Nguyễn minh Triết và hai Thủ tướng Phan văn Khải và Thủ tướng Nguyễn tấn Dũng. Họ là ai, một Quốc Trưởng thì nhân chuyến công du làm thêm công việc chào hàng, món hàng đó là phụ nữ của quê hương Việt Nam (7), còn một ông Thủ tướng thì khi đáp từ thì rút trong túi áo mảnh giấy nhàu để nhìn và đọc (8); còn cảnh Tổng Thống Eisenhower, Ngoại Trưởng Foster Dulles nghênh đón Tổng Thống Ngô đình Diệm tại sân bay, cũng như dân thành phố New York nhiệt liệt chào đón Tổng Thống của miền Nam Viêt Nam 1957 như thế nào. Khi so sánh như thế Tổng thống thấy trong tám năm qua Tổng thống o bế quá đáng đám tư sản đỏ bất tài và vô lương mà Thượng Nghị sĩ John Mc Cain gán cho là “The wrong guys won” .
CHÚ THÍCH
1. Khi Iraq thua trận năm 1991 hầu hết đảng viên đều buồn rầu ra mặt vì không biết ăn nói làm sao với dân, vì trước đó đã huênh hoang nói với dân là Mỹ sẽ bị sa lầy ở Iraq.
2. Không có bằng cớ xác đáng mà Tổng Thống đưa quân sang đánh Iraq nên người ta gọi ông là a liar, còn Tổng Thống thì biện minh rằng lịch sử sẽ trả lời vì sao Mỹ đưa quân vào Iraq.
3. Ở Texas đại diện cộng đồng yêu cầu có hành động để có dân chủ nhân quyền cho nước chúng tôi (Việt Nam) thì đuợc Đại Sứ Michalak trả lời nước của quí vị hiện giờ là nước Mỹ.
4. Nước Kosovo đã tạc tượng hai Tổng Thống. Đó là Tổng Thống Bill Clinton và Tổng Thống G. W. Bush.
5. Thuật ngữ mà ông Hồ thường dùng để chỉ tập đoàn lãnh đạo từ trung ương đến địa phương.
6. Đã dẫn ở (5)
7. Ông Triết kêu gọi đầu tư nhiều vào Việt Nam vì xứ sở nầy có nhiều tiềm năng đầy hứa hẹn, dân đông và thân thiện lại còn có gái đẹp nữa.
8. Đó là Thủ tướng Phan văn Khải.