2009: Còn suy thoái, và lo khủng hoảng!
Ngô Nhân Dụng
Bản tin về số người Mỹ thất nghiệp ngày hôm qua đã xác nhận cơn suy thoái kinh tế ở Mỹ hiện giờ sẽ còn nặng nề hơn và có thể kéo dài đến cuối năm 2009. Số thống kê được nhắc lại nhiều lần trên các đài truyền hình là hơn nửa triệu người mất việc trong Tháng Mười Hai năm 2008 (524 ngàn người so với 584 ngàn người mất việc trong Tháng Mười Một); và tỷ lệ thất nghiệp leo lên 7.2%, tỷ số cao nhất từ Tháng Giêng năm 1993 khi ông Bill Clinton mới lên thay cựu Tổng Thống George H.W. Bush.
Tính chung cho cả năm 2008, số việc làm bị mất liên tục trong 12 tháng qua đã lên tới 2.6 triệu công việc, con số cao nhất kể từ năm 1945 đến nay. Hai triệu người mất việc trong bốn tháng cuối cùng năm ngoái sau khi có kế hoạch cứu nguy khủng hoảng tài chánh. Hiện nay có 4 triệu 611 ngàn người Mỹ đang lãnh trợ cấp của bảo hiểm thất nghiệp trong số 11 triệu người không có việc làm; đây là con số cao nhất kể từ cuộc suy thoái năm 1982. Trong năm 2009 số người mất việc chắc chắn sẽ tăng thêm.
Điều khiến các người nghiên cứu kinh tế lo ngại không phải là những con số việc làm đã bị mất mà là một thống kê khác: Số giờ làm việc trung bình của người lao động Mỹ cũng giảm bớt, mà đó là những người đang có việc làm. Nếu tính cả số giờ làm việc bị cắt thì tỉ lệ thất nghiệp thực sự tương đương với 13.5% và sẽ còn cao hơn, đến giữa năm 2009 sẽ có thêm một triệu rưỡi người mất việc nữa.
Bộ Lao Động cho biết trong tháng 12 vừa qua những người Mỹ đang làm việc chỉ làm mỗi tuần trung bình 33.3 giờ. Đây là con số giờ làm việc hàng tuần thấp nhất kể từ khi bắt đầu theo dõi số thống kê này từ năm 1964. Kinh nghiệm cho biết thường các xí nghiệp thường giảm số giờ làm việc của các công nhân trước khi sa thải người, đề phòng nếu việc kinh doanh khá lên thì không phải lo tuyển người mới tốn kém hơn nhiều. Nhưng nếu việc kinh doanh không khá hơn mà lại sút giảm thì các xí nghiệp sẽ sa thải thêm nhân viên. Và viễn tượng năm 2009 chưa thấy dấu hiệu nào khá cả, trước khi các kế hoạch chi tiêu kích thích kinh tế của Tổng Thống tân cử Barack Obama bắt đầu được thực hiện. Thời gian từ lúc quốc hội chuẩn y đến khi thi hành để đồng tiền thực sự tác động vào nền kinh tế cũng phải chờ ba tháng đến nửa năm.
Trong những tháng cuối nam qua, số giờ làm hàng tuần đã giảm nhanh hơn tốc độ giảm của số công việc làm, cho thấy các xí nghiệp đang cố trì hoãn việc sa thải. Trong 4 tháng cuối năm 2008 số giờ làm việc trung bình của công nhân sản xuất đã giảm theo tốc độ 9.4% một năm. Số giờ làm giảm nhiều cho thấy các xí nghiệp đã cắt bớt giờ làm của hầu hết mọi công nhân thay vì sa thải một số người. Nếu họ theo chính sách sa thải thay vì bớt giờ làm thì tỉ lệ 9.4% này cho thấy số việc làm bị mất tương đương trong một năm là 13 triệu công việc. Những con số đó khiến người ta tiên đoán trong nửa đầu năm 2009 sẽ còn nhiều người mới mất việc nữa.
Một điều đáng lo khác trong các con số thống kê là số công việc làm bị mất trải đều ra đủ mọi ngành hoạt động kinh tế. Trong năm 2008 có gần 800 ngàn người trong lãnh vực công nghiệp chế tạo bị sa thải, trong đó có 21 ngàn người trong ngành sản xuất xe hơi và phụ tùng. Ngành bán lẻ mất 522 ngàn công việc vì dân bớt tiêu thụ, trong tháng 12 cũng mất 66,000 công việc. Nhưng bị ảnh hưởng nặng nhất là ngành xây cất, trong tháng 12 đã mất 101,000 việc làm, và kể từ lúc cực thịnh Tháng Chín năm 2006 thì đã có 900 ngàn công nhân xây dựng bị mất việc làm.
Các hoạt đồng kinh tế về dịch vụ cũng bị ảnh hưởng dù nhẹ hơn, đã mất 273 ngàn việc làm trong tháng 12; chỉ có hai ngành cho con số việc làm tăng lên là các dịch vụ y tế và giáo dục, tăng tổng cộng 45,000 việc làm trong tháng trước; trong khi số công chức mới được tuyển vào làm cho chính phủ cũng tăng thêm 7 ngàn người.
Cuối cùng nước Mỹ đã chính thức bước vào một giai đoạn suy thoái (recession), theo định nghĩa trường ốc. Sau khi Tổng Sản Lượng Nội Địa của Mỹ đã giảm bớt 0.5% trong quý thứ ba năm 2008, GDP sẽ giảm khoảng 5% trong quý thứ tư (các tỷ lệ đều tính theo thường niên). Các nhà nghiên cứu kinh tế thường coi kinh tế bước vào suy thoái khi GDP giảm sụt hai quý liên tiếp. Tuy nhiên, có những cơ quan nghiên cứu tư nhân như NBER dùng một định nghĩa rộng rãi hơn, họ đánh dấu cuộc suy thoái kinh tế lần này bắt đầu từ tháng 12 năm 2007. Nếu như vậy, thì kinh tế có cơ sẽ bị coi là lâm vào một cuộc khủng hoảng chứ không phải chỉ là suy thoái.
Không có một định nghĩa chung về tình trạng khủng hoảng kinh tế (depression) được nhiều người chấp nhận. Có hai khuynh hướng, một số coi là có khủng hoảng kinh tế nếu cuộc suy thoái làm cho Tổng Sản Lượng Nội Địa có lúc giảm nhiều quá, giảm từ 10% một năm trở lên; hoặc theo lối khác, khi nào cơn suy thoái kéo dài từ 3 năm trở lên thì coi là khủng hoảng kinh tế. Giai đoạn 1930 nước Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế, theo cả hai lối định nghĩa trên. Vì cơn thoái trào đã kéo dài 43 tháng và có lúc GDP giảm mất 13% trong một năm.
Trước năm 1930, hầu hết khi kinh tế thoái trào đều là được gọi là depression, khủng hoảng, vì các cơn suy thoái thường kéo dài hơn hoặc nặng nề hơn bây giờ. Nhưng kể từ thập niên 1940, 50 đến nay, các cơn suy thoái thường nhẹ và ngày càng ngắn dần; lần cuối cùng vào năm 2001 thì GDP giảm chưa tới 2% theo tỷ lệ hàng năm và chỉ kéo dài khoảng 8 tháng. Chính vì sự thay đổi đó nên các nhà nghiên cứu đã dùng một từ mới, recession, suy thoái kinh tế, để phân biệt với hiện tượng depression trong quá khứ. Lý do khiến kinh tế xuống nhẹ và ngắn hơn chính vì những người điều hành kinh tế quốc gia đã khôn ngoan học được kinh nghiệm cũ để tìm ra phương pháp mới đối trị với suy thoái kinh tế.
Trước cuộc khủng hoảng 1930 thế giới còn dùng vàng làm vật bảo đảm cho đồng tiền, khi kinh tế xuống thì số lượng tiền lưu hành tự động giảm bớt. Lúc đó khối lượng tiền trong kinh tế Mỹ giảm bớt một phần ba, cộng với các chính sách sai lầm bảo hộ mậu dịch khiến cho kinh tế Mỹ càng lún xuống nặng nề. Bây giờ khi biết kinh tế đang xuống, các ngân hàng trung ương và chính phủ đều tung thêm tiền vào trong xã hội để mọi người tiêu tiền và kích thích tạo thêm công việc làm mới. Đồng thời chính phủ cũng tăng hoặc kéo dài thời gian lãnh trợ cấp thất nghiệp, giảm thuế cho mọi người, là những cách đưa tiền cho dân chúng tiêu thụ thêm. Những chính sách đó có tác dụng giảm bớt cường độ suy thoái và cắt ngắn thời gian kinh tế đi xuống.
Năm 2009 kinh tế Mỹ có hy vọng chỉ bị suy thoái mà không rơi vào khủng hoảng hay không?
Nếu thận trọng, không ai dám quả quyết là có hay không. Mọi người lo là có thể, nhưng cũng hy vọng là sẽ không đến nỗi nào! Vì cơn thoái trào kinh tế lần này đặc biệt khác những lần gần đây. Kinh tế Mỹ năm qua đã xuống mà không theo một chu kỳ bình thường. Bình thường thì cảnh suy thoái diễn ra khi kinh tế tăng trưởng quá đà, ngân hàng trung ương bèn thắt chặt chính sách tiền tệ, tăng lãi suất để ngăn ngừa lạm phát; hành động đó khiến cho hoạt động kinh tế giảm đi. Lần này, kinh tế Mỹ xuống vì những lý do khác nữa, bắt đầu khi trái bong bóng giá nhà cửa phồng lên quá cao rồi bị xẹp, đưa tới cơn khủng hoảng tín dụng. Từ đó các ngân hàng kẹt tiền và mọi người, mọi công ty và ngân hàng đều giảm bớt nợ, tiêu thụ và sản xuất đều giảm. Tất cả những điều đó diễn ra đưa tới tình trạng giá cả xuống, có cơ nguy biến lạm phát thành giảm phát. Do đó, cơn suy thoái năm nay dễ kéo dài và nặng nề hơn những lần gần đây, dễ có cơ biến thành khủng hoảng kinh tế.
Trong trường hợp suy thoái bình thường, chỉ cần ngân hàng trung ương thay đổi chính sách tiền tệ, đổi chính sách thắt chặt bằng cách giảm lãi suất và bơm thêm tiền vào xã hội. Các ngân hàng, các xí nghiệp và người tiêu thụ sẽ phản ứng theo, họ có thể làm giảm bớt cơn suy thoái. Nhưng trong trường hợp như hiện nay, các biện pháp tiền tệ không hiệu quả như cũ vì cả hệ thống ngân hàng đã “trở chứng” không còn đóng vai “chuyển” các chính sách của ngân hàng trung ương vào xã hội một cách nhuần nhuyễn như bình thường. Cho nên bên cạnh các chính sách tiền tệ ít hiệu quả đó, cần những kế hoạch kích thích kinh tế trực tiếp với các chính sách chi tiêu của chính phủ.
Đó là lý do mọi người đang trông đợi ở số tiền 800 tỷ Mỹ kim chi trong 2 năm mà ông Tổng Thống tân cử Barack Obama đã hứa hẹn. Nếu chương trình chi tiêu này được quốc hội chấp thuận sớm và thi hành đúng thì nhiều hy vọng kinh tế Mỹ sẽ chỉ suy thoái mà không lâm vào khủng hoảng. Tới cuối năm 2009 chúng ta mới biết chắc chính phủ Obama có cứu được nền kinh tế hay không. Quốc hội chắc chắn sẽ ủng hộ và cầu mong ông Obama thành công, vì sang năm dân Mỹ lại chuẩn bị đi bầu quốc hội nữa! Chế độ tự do dân chủ có một phương pháp khích lệ các nhà chính trị làm việc đứng đắn, hết lòng vì dân, chính vì người dân lúc nào cũng có quyền cho họ về vườn!