Việt Nam và 'thế giới Trung Hoa'

Trương Thái Du

Trung Hoa hơn hai ngàn năm qua, sau khi Tần Thủy Hoàng nhất thống Trung Nguyên, chưa bao giờ đơn giản mang thực nghĩa một quốc gia.

Nó là cả một thế giới bởi qui mô đồ sộ từ lãnh thổ, dân số, văn hóa, kinh tế đến ảnh hưởng ra bên ngoài. Từ trước đến nay phương Tây luôn hành xử với Trung Hoa trên nhận thức này.

Do đó khi xét đến quan hệ Việt – Trung, giới hạn Trung Hoa trong khuôn khổ một quốc gia là khá bất cập.

Vào những ngày tháng đầu tiên vận động Đông Du ở ngưỡng cửa thế kỷ 20, Nguyễn Tiểu La đã tâm sự với Phan Bội Châu: “Tôi tưởng tình thế liệt cường bây giờ, nếu không phải nước đồng chủng đồng văn, tất không ai chịu giúp ta: nước Tàu đã chịu nhượng nước Việt Nam cho Pháp, huống gì hiện nay quốc tế suy hèn, cứu mình không xong mà cứu được ai? Duy Nhật Bản là nước tân tiến trong nòi giống da vàng, vừa mới đánh được Nga, dã tâm đương hăng hái lắm; qua tới đó đem lợi hại bày tỏ, tất có hiệu quả, dầu họ không xuât binh mã, mà mượn tư lương mua khí giới tất có thể dễ dàng”.

Đoạn văn gần như đã xác định Việt Nam thuộc về “thế giới Trung Hoa”, trước khi người Pháp can thiệp vào Đông Dương.

Thế giới Trung Hoa


Xung đột Việt – Hoa rất nhiều lần được hiểu là sự xâm lăng từ phương bắc. Phức tạp hơn thế nhiều, nó còn gánh vác “xứ mệnh” mở rộng “thế giới Trung Hoa” nữa.

Nhà Nguyên luôn ghép Đại Việt và Chiêm Thành vào một chiến dịch. Nhà Minh vừa bình định Đại Việt vừa gửi Trịnh Hòa thám hiểm những vùng biển mới.

Khi nền chính trị Đại Việt qui thuận hoàn toàn Nho giáo dưới triều Lê, Chiêm Thành bị diệt vong.

Tuy thế, nền tảng văn hóa bản địa phi Trung Hoa của mảnh đất Trung bộ đã trở thành “chiến khu” đắc địa cho họ Nguyễn đối kháng với chúa Trịnh.

Gần ba trăm năm Trịnh – Nguyễn phân tranh cũng là thời gian thực thi đồng hóa bởi “thế giới Trung Hoa” với mảnh đất viễn nam của nó.

Gia Long thống nhất Việt Nam và lên ngôi, đánh dấu chiến thắng bề ngoài của vùng đất mới.

Song thiết chế văn hóa – chính trị trùm phủ lên Yên kinh thu nhỏ tại Huế, lại nói lên thâm nghĩa của cuộc dâu bể.

Ở vào khu vực biên viễn của “thế giới Trung Hoa”, không ít lần người Việt đã có những toan tính và cơ hội vượt thoát. Đầu thế kỷ 19 vua Gia Long đôi lúc nhìn về phương Tây một cách thiện cảm, chẳng hạn như phong quan tước cho những người châu Âu có công.

Tuy nhiên đến Minh Mạng thì con thuyền Việt Nam lại quay đầu bế quan tỏa cảng, tuyệt giao với thế giới ngoài Trung Hoa.

Một trăm năm tiếp theo, dã tâm ăn cướp dưới chiêu bài khai hóa của thực dân Pháp đã cộng hưởng mãnh liệt với cảm thức “về nguồn” hủ lậu, khiến dân tộc Việt Nam thành kẻ lỡ đường, thành tâm điểm xung đột giữa thế giới Tây dương và Trung Hoa.

Từ 1945, mâu thuẫn vốn có lại kết hợp nhuần nhuyễn với màu sắc ý thực hệ, làm cho mảnh đất Việt Nam trở thành chiến trường thử vũ khí nóng rực suốt ba mươi năm.

Sau năm 1975 Việt Nam đứng trước đến ba thế giới: Khối XHCN với Liên Xô lãnh đạo, thế giới tư bản phương Tây và thế giới Á đông lục địa (một định vị làm rõ nghĩa của “thế giới Trung Hoa”). Chủ nghĩa dân tộc cốt lõi của Hồ Chí Minh ở thời điểm 1945, một lần nữa đứng ở ngã ba đường.

Người Mỹ nuốt lời hứa bồi thường chiến tranh và quẳng ra bánh vẽ của “nhà hàng” World Bank và IMF.

“Thế giới Trung Hoa” gia nhiệt Khơ Me Maoist làm sức ép ở biên giới Tây nam. Người Việt đành đoạn bước vào con đường “viễn giao” XHCN và hoàn toàn không ngờ nó sẽ chóng vánh sụp đổ ngay năm 1991 trước mắt.

Chiến tranh lạnh hạ màn. Nhân loại hỗn mang. Tôi nhớ mãi bản tin đặc biệt của đài truyền hình Việt Nam tháng tám năm 1991, sau khi Gennady Yanayev tuyên bố thành lập “Ủy ban khẩn cấp nhà nước” tại Moscow.

Ngôn ngữ ở đây xác nhận chính trị gia Hà Nội đang nín thở dò đường, run rẩy trước tương lai bất định. Liên bang Xô Viết không thể gượng dậy, một lần nữa “thế giới Trung Hoa” lại kênh kiệu đón về mảnh đất hình chữ S.

Tiềm năng đất nước?


Phải công nhận ở trong “thế giới Trung Hoa” gần hai mươi năm nay, Việt Nam đã tiến những bước dài và phát triển vượt bậc. Song, sự phát triển ấy có tương thích với tiềm năng đất nước hay không, có đủ bảo vệ quyền lợi dân tộc Việt trước con rồng dữ Trung Hoa hay không?

Thách thức, rủi ro bao giờ cũng đem theo cơ hội. Cần phải khẳng định rõ ràng rằng một dân tộc đơn lẻ không bao giờ có thể bình đẳng với cả một thế giới văn hóa – chính trị.

Mâu thuẫn quyền lợi Việt – Hoa trên biển Đông đã, đang và sẽ giúp người Việt nhìn nhận lại chính mình, suy tư đến “thế giới” mà mình thuộc về.

Khi nhà văn Đỗ Hoàng Diệu viết những dòng chữ: “Có lẽ ông tổ anh từng là vua chúa vương giả Trung Hoa gặp nạn nên chạy loạn sang đây. Tôi thấy Thụ thật ngây thơ nhưng không dám nói. Dòng họ nào ở miền bắc này mà không chạy loạn hay đội trên đầu xứ Trung Hoa?”, không biết cô có ý thức được mình đã chạm vào đáy sâu tâm can của cả một dân tộc.

John Barrow (1764-1848) một quí tộc lớn của hải quân Anh đã viết về hoàng đế Gia Long như sau3: “Giống như một hậu duệ Trung Hoa thực sự, như Ngài từng tuyên xưng, của một vương gia nhà Minh, Ngài luôn luôn dùng bữa một mình, không cho phép vợ Ngài hay bất kỳ người nào khác trong gia đình được ngồi ăn cùng mâm với Ngài”.

Hoặc giả ít người Việt Nam có thể tưởng tượng được: “Theo số liệu thống kê của Cao Uỷ Tị Nạn Liên Hiệp Quốc, 5 năm sau ngày 30-4-1975, đã có hơn 675.000 người gốc Hoa trong tổng số 900.000 người Việt rời khỏi Việt Nam”.

Tôi đoan chắc rằng phức cảm huyết thống/cội nguồn là một ẩn số vô cùng to lớn, giúp người Việt Nam luôn cảm thấy an toàn khi ở trong “thế giới Trung Hoa”.

Mỗi khi nhắc đến từ “Trung Quốc”, cho dù ở giữa một câu miệt thị, hàng loạt hiệu ứng tinh thần đối chọi sẽ xuất hiện trong tâm hồn mọi đám đông Việt Nam, kích thích họ không thua gì ma túy hoặc những khẩu hiệu cách mạng.

Chính phức cảm này đã trói chân trói tay nhà Nguyễn đầu thế kỷ 19, khiến họ không thể thoát khỏi “thế giới Trung Hoa” hủ lậu khép kín thời ấy.

Nó biến sự so sánh Việt Nam và Phù Tang luôn luôn không tưởng, vì cơ bản dân tộc Nhật khá đồng chủng và không bị pha trộn huyết thống Hoa Hạ.

Ở giữa “thế giới văn hóa Đông Nam Á”, trường hợp Thái Lan chẳng hạn, các lãnh tụ chính trị gốc Hoa của họ ít khi nào giấu giếm xuất thân và cơ bản xã hội cũng bàng quan với thông tin ấy.

Trái lại, tại Việt Nam, câu chuyện tương tự thường là kín đáo. Cựu thủ tướng quá cố Võ Văn Kiệt dành nhiều thời gian phản biện nghi án “bán nước” của tổ tiên mình.

Nhưng ngay cả khi ông đã mất, không nguồn tin chính thống nào dám xác nhận Võ Văn Kiệt là cháu của đại thần Minh hương Phan Thanh Giản.

Câu trả lời ở đây là: Một phần huyết thống Hán của dân tộc Kinh bị đè nén, bị xuyên tạc bởi những sử gia Marxist, bị dồn ép giữa con bài quyền lợi hai dân tộc Việt – Hoa.

Vô hình chung nó trở thành "dục vọng" ngầm, nó sẽ lèo lái đất nước Việt Nam như đã từng lèo lái: càng độc lập lãnh thổ thì càng Hán hóa về phương diện chính trị và văn hóa!

Đó là sai lầm của sử học cận đại khi bó buộc lịch sử Việt Nam trong thuyết bản địa, của kiểu tư duy thuần ý chí và hơn hết là của sự kém tự tin đến giả dối, của tầm nhìn làng quê trong vấn đề chủng tộc.

Điểm mù nhận thức kia, luôn được hà hơi tiếp sức thêm bằng niềm tin lỗi thời và những quan điểm truyền thống lạc lõng của cả một nền văn hóa chính trị, bắt đầu bằng tục xưng thần của Triệu Đà và tiếp nữa bằng việc "nhận họ" của Hồ Quý Ly.

Mặc dù khi truy nguyên mình là hậu duệ Đường Ngu, chủ tâm Hồ Quý Ly muốn ngang hàng với Minh triều, muốn độc lập lãnh thổ với Minh triều, muốn chấm dứt triều cống.

Thế kỷ 21, các đường biên văn hóa đang nhạt nhòa. Nhân loại dần bước đến thời kỳ đại đồng, bắt đầu bằng mũi nhọn thương mại.

Do những đặc thù lịch sử, ngoài giá trị mang dấu ấn “thế giới Trung Hoa”, kho tàng của dân tộc Việt Nam đã và đang dung chứa các giá trị tốt đẹp khác của “thế giới Đông Nam Á” và văn minh phương Tây.

Dứt bỏ phụ thuộc


Một mô hình phát triển khôn khéo cho nước Việt hôm nay, phải chăng là kiểu hòa hợp các tích cực tương đồng và giảm thiểu nhiều khuyết điểm đối chọi phủ nhận lẫn nhau? Đặc biệt nên hết sức cẩn thận trước các con đường hoàn toàn thiên lệch về bất cứ chiều hướng nào.

Cơ may thịnh vượng cho dân tộc Việt Nam dường như rất cần một tiến trình "phi Hán hóa" tỉnh táo và đừng lẩm cẩm như trào lưu "trong sáng tiếng Việt" cách đây không lâu.

Hẳn nhiên người Việt đang sẵn lợi thế hơn bao giờ hết, để dứt bỏ phụ thuộc vào “thế giới Trung Hoa” hàng ngàn năm qua.

Bước khỏi bóng râm định mệnh, chúng ta mới dễ dàng bảo vệ một cách hữu hiệu nhất quyền lợi của chính mình trên mọi phương diện, trong đó có chủ quyền khai thác biển Đông.

Nhìn Lại, Đi Tới...

Trần Khải

Vậy là năm 2008 đã trôi qua. Chúng ta đang bước trên những ngày đầu của năm 2009. Cuộc chiến vì tự do và dân chủ vẫn còn giằng co, chưa đẩy lên được tầm mức phong trào quần chúng. Ngày tháng vẫn trôi qua không ngừng, thế giới vẫn quay cuồng với nỗi niềm riêng của từng nước. Việt Nam đã qua 2008, và đang vào 2009. Bây giờ là lúc để nhìn lại, và ngẫm nghĩ nhìn về hướng đi tới.

Nói theo kiểu thời học trò chơi cờ tướng là "đã tới lúc xóa bàn làm lại." Thực tế, lịch sử không cho chúng ta các cơ hội như thế. Có những bài học phải trả giá, hoặc đắt hoặc rẻ. Cụ Hoàng Minh Chính từ trần, là một mất mát lớn của năm 2008. Rồi tới cụ Nguyễn Thanh Giang bị bao vây, xét nhà, truy bức và hăm dọa có thể sắp khởi tố. Và hàng loạt các nhà hoạt động dân chủ thế hệ trung niên và thanh niên đã và đang bị truy bức trong năm 2008.

Nhưng cũng đã có các thành công nổi bật trong các hoạt động dân chủ. Như các cuộc biểu tình đòi giữ đất, giữ đảo. Bất kể là công an đã ra sức bảo vệ cho cuộc chạy rước đuốc Thế Vận tại Sài Gòn êm thắm, nhưng những ngày trước đó đã có một ngọn lửa khác đã chuyền qua tim những người yêu nước, và bật sáng lên khát vọng gìn giữ cõi bờ. Tuyệt vời biết bao, rực rỡ đáng khâm phục khi một sinh viên du học từ Đài Loan bay sang Bangkok để biểu tình "một thân, một mình với áo sơn biểu ngữ" để đòi giữ đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Thế giới có thể không hiểu hết hành động của một chàng thanh niên Việt sang Bangkok để làm chuyện này. Thế nhưng, ngọn Đuốc Thế Vận khi rời Bangkok để sang Việt Nam đã mờ đi một tí, và rồi tới ý kiến của kẻ sĩ Lê Minh Phiếu tại Sài Gòn để chất vấn về Hoàng Sa, Trường Sa. Ngọn đuốc khi rời Sài Gòn để sang Bắc Kinh thấy rõ là đã mất nhiều nhuệ khí, tuy là sau đó, để tới tháng 8-2008 đèn hoa rực sáng khắp Thế Vận Bắc Kinh. Tuy nhiên, đối với tuổi trẻ Việt Nam, lòng yêu nước của họ đã sáng rực, che mờ cả ngọn Đuốc Thế Vận kia.

Cũng cần nhắc rằng, tuy ngọn Đuốc Thế Vận không có lộ trình chạy qua Hà Nội, nhưng khi ngọn Đuốc Thế Vận tới phi trường Tân Sơn Nhất, Sài Gòn, vào lúc 11 giờ đêm của ngày 28-4-2008, thì sáng ngày 29-4-2008, công an đã bắt 6 nhà hoạt động dân chủ tại trước chợ Đồng Xuân, ngay sau khi họ hô các khẩu hiệu "Tẩy chay Thế Vận Hội Bắc Kinh!" và trương biểu ngữ với hình năm chiếc còng trên đó có hàng chữ "Beijing 2008." Công an khi bắt 6 nhà hoạt động, đã dùng quyền cước đánh thẳng vào nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và thầy giáo Vũ Hùng, hai vị trí thức trước giờ vẫn nổi tiếng đi đầu trong các hoạt động dân chủ. May mắn, hình ảnh này đã chụp được và phóng lên Internet toàn cầu.

Cũng nổi bật trong các cuộc biểu tình là cách nhà nước vây bắt anh Điếu Cầy tại Sài Gòn, và khởi tố, kết án anh về tội trốn thuế, một điều hết sức là vô lý vì bản hợp đồng thuê nhà hoàn toàn đặt trách nhiệm trả thuế cho đối tác thuê. Vậy đó, năm 2008 đã cho thấy cách thức nhà nước đối xử tệ bạc với những người đòi giữ đất, giữ đảo ra sao.

Tuyệt vời nữa trong cuộc chiến dân chủ là việc treo một số biểu ngữ đòi dân chủ tự do tại một số cầu vượt xa lộ Miền Bắc. Điều bi thảm, công an đã bắt các nhà trí thức này, trong đó cũng có nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa và thầy giáo Vũ Hùng, và có tin là công an đang tìm cách để sẽ khởi tố về tội "nhận tiền nước ngoài" - một kiểu có thể bị quy chụp là gián điệp. Gần nhất, là chuyện công an vào khám xét nhà của Tiến Sĩ Nguyễn Thanh Giang, và hù dọa, cho hiểu rằng chính phủ "không hoan hỉ" với tất cả các hoạt động đòi dân chủ bao giờ. Tương tự, là việc Đảng Dân Chủ Nhân Dân thả bong bóng, rải truyền đơn đòi dân chủ.

Một hình ảnh bi thảm, và cũng nổi bật trong phương cách nhà nước bưng bít thông tin là là các bản văn trong tháng 12-2008 về kiểu "hù dọa, và chế tài" trên các blog. Nhưng, làm cách nào có thể đưa hết các blog vào "lề phải" mà đi? Câu hỏi là, nếu phải đi trên "lề phải," thì lại giẫm chân lên báo chí dòng chính rồi, đâu còn là nguồn thông tin ngoài luồng nữa. Vậy đó, nhà nước CSVN vẫn lộ mặt dầy mà ra đủ thứ chỉ thị xiết chặt thông tin.

Nhìn về các phương diện khác. Chúng ta có thể chú ý rằng, nạn lạm phát đã làm khổ người dân khôn xiết kể. Khủng hoảng tài chánh toàn cầu đã dần dần tác hại vào kinh tế Việt Nam, và hiển lộ dấu hiệu đầu tiên là chỉ số của thị trường chứng khoán Việt Nam sụt giá, là nạn đóng băng ngành bất động sản (nhiều trung tâm môi giới nhà đất đã phá sản), nhiều doanh nghiệp quốc tế và quốc nội tại Việt Nam đóng cửa, và thất nghiệp tăng vọt. Lạm phát mấy tháng qua, có lúc tới 28%, đã làm kinh hoàng mọi người dân. Nhưng nhìn lên thì thấy người giàu vẫn giàu, thấy cán bộ vẫn quyền lực nhà cao xe xịn. Bù lại chuyện lạm phát là đội tuyển VN đoạt vô địch giải túc cầu Đông Nam Á. Một vinh dự bỏ ngõ từ gần nửa thế kỷ.

Một sự kiện nổi bật trong năm 2008 là Đại Lễ Vesak Liên Hợp Quốc 2008, tại Hà Nội. Đây là một lễ có thể gọi tắt là Phật Đản (ngày Đức Phật sinh ra đời), nhưng gọi đúng là Lễ Tam Hợp (vừa là tháng Đản Sinh, Thành Đạo, và Nhập Niết Bàn). Lễ này dưới chiếc dù Liên Hợp Quốc, tổ chức ở Hà Nội, với tham dự của khoảng 600 phái đoàn Phật giáo với 5.000 đại biểu quốc tế và VN. Cũng cần nói một điểm cho công bằng nơi đây: Đại Lễ thành công một phần lớn cũng nhờ Thiền Sư Nhất Hạnh góp sức, và đưa phái đoàn Làng Mai về tham dự, nhưng rồi mới vài tháng sau thì, công an Lâm Đồng lại làm áp lực để từ chối giấy tờ và để giải tán 400 tăng ni Làng Mai ra khỏi Tu Viện Bát Nhã, Lâm Đồng. Phải chăng, đây cũng là lý vô thường: sau gặp gỡ là chia lìa?

Một sự kiện nổi bật khác, còn là các cuộc "cầu nguyện tập thể," như cách gọi lúc ban đầu, mà sau đó gọi đơn giản là "biểu tình," của giáo dân Hà Nội để đòi đất Tòa Khâm Sứ và tại giáo xứ Thái Hà. Kết cuộc là, dân Hà Nội có 2 công viên mới. Chuyện này chưa êm, vì 8 giáo dân bị kết án ở tòa sơm thẩm bây giờ đã kháng án, và đang đòi báo và đài nhà nước phải đính chính về cách loan tin khi nói rằng họ "cúi đầu nhận tội," điều mà họ nói rằng không hề có chuyện nhận tội nào cả.

Còn một sự kiện khác cũng nổi bật, đã cho thấy khả năng "lăng ba vi bộ" của Đảng CSVN tới mức tuyệt vời. Nói cho dễ hiểu, đây là nghề "lạng, lách, đánh võng" của Đảng CSVN khi chơi với quốc tế. Chính phủ Nhật Bản sau nhiều tháng khui tội hối lộ, do các viên chức công ty Nhật PCI nộp tiền 10-15% tiền dự án ODA cho quan chức thành phố Sài Gòn, thấy Hà Nội không nhúc nhích gì cho dù là tòa án Nhật Bản đã kết án xong 4 giám đốc PCI, bèn tuyên bố ngưng cấp tiền ODA.

Chính phủ CSVN liền thanh minh thanh nga, tuyên bố sẽ "có chứng cớ tới đâu, sẽ xử lý tới đó" (lời ông Thủ Tướng CSVN Nguyễn Tấn Dũng). Chuyện chưa thấy xử lý gì, tòa án Sài Gòn cũng chưa thấy có hồ sơ khởi tố nào, thì đùng một cái, có vẻ như phía chính phủ Nhật đã chịu nhắm mắt làm ngơ, bởi vì hình như thông cảm với nước bạn CSVN đang chia sẻ chung một mặt trận để ngăn chận bước đi bành trướng của siêu cường Trung Quốc. Việt Nam và Nhật Bản hôm 25-12-2008 đã ký Hiệp định đối tác kinh tế (EPA), theo trang báo Chính Phủ là, "Ký kết ngày 25/12/2008, EPA giữa Việt Nam và Nhật Bản quy định các nội dung cơ bản là trong vòng 10 năm tới 92% kim ngạch thương mại hai chiều sẽ được miễn thuế hoàn toàn. Phía Nhật Bản sẽ miễn thuế 95% các mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đồng thời phía Việt Nam cũng đáp ứng miễn thuế 88% mặt hàng xuất khẩu của Nhật Bản." Thế mới lạ. Vừa tuyên bố ngừng cấp ODA, vài tuần sau liền ký EPA.

Một năm 2008 quá nhiều chuyện để nhìn lại, để suy nghĩ. Và một năm 2009 còn quá nhiều dặm đường phải đi cho các nhà hoạt động dân chủ. Vẫn còn rất nhiều gian nan.

Xin chúc lành tới toàn dân Việt Nam, và cũng cầu nguyện cho hòa bình, hạnh phúc, thịnh vượng cho tất cả mọi người trên cõi đời này, không kể bất kỳ giới tuyến biên cương nào. Địa cầu là của chung cho tất cả chúng ta, để chung sống, hòa bình, dân chủ và tôn trọng lẫn nhau.