NĂM DẦN NÓI CHUYỆN CỌP (phần 1)

Kha Lang Đa/CanhThep biên khảo


Chuyện nói về cọp theo Động Vật Học thì có rất nhiều điều được quan sát, nghiên cứu và ghi nhận về giống vật ăn thịt đứng hàng đầu mà người ta gọi nó là “Chúa Tể Sơn Lâm”. Một sự nghiên cứu rất dày công để biết rõ được nguốn gốc, nòi giống, quê hương và đời sống của “Ông Ba Mươi”và mối tương quan của cọp với những loài động vật khác.

- PHÂN LOẠI THEO KHOA HỌC


Theo hoa học thì cọp thuộc Giới Động Vật, Ngành Động Vật Có Xương Sống, Cấp Có Vú, Hàng Động Vật Có Răng Nanh, thuộc Họ Mèo, Giống Báo, Loại P.Tigris. Tên nhị thức ( hiểu đơn giản là tên thứ 2) là Panthera tigris.

Phân loài ( Subspecies ) của cọp: P.t. bengalensis, P.t. corbetti, Panthera tigris Jackson, P.t. sumatrae, Panthera tigrisaltaica, Panthera tigris amoyensis, P.t. balica, P.t. sondaica.

Cọp là thành viên của họ Fedidae, là họ lớn nhứt trong 4 họ mèo lớn ( Big cats ) của giống báo ( Panthera ), đa số xuất thân từ vùng Nam Á, đứng hàng đầu của động vật ăn thịt. Nó có thể với tới 4m ( 13 feet ), cân nặng 300kg ( 660lb ). Phân biệt theo màu lông, có 2 loại cọp chiếm đa số là cọp Bengal và cọp Siberian.

II- PHÂN LOÀI ( SUBSPECIES ) CỦA CỌP


Có 9 loại cọp, trong số ấy có 3 loại đã bị diệt chủng. Xếp loại có tính cách lịch sử cho chúng qua các vùng Bangladesh, Siberian, Iran, Afghanistan, India, China và Đông Nam Á bao gồm một số ở hải đảo Indonesia.

A- NHỮNG LOẠI CỌP CÒN SỐNG SÓT


1- Cọp Bengai hay cọp Royal Bengal ( Panthera tigris tigris ) –

Hầu hết loại nầy được tìm thấy ở Ấn Độ và Bangladesh, trong đồng cỏ, rừng nhiệt đới, cận nhiệt đới, rừng thấp, rừng ẩm ướt hay khô ráo, rừng đước ( rừng sát) Cọp đực ở hoang dã cân nặng 205 tới 227kg ( 450- 500lb ), cọp cái chỉ nặng trung bình 141kg. Ở phía Bắc Ấn Độ, cọp Nepalese Bengal nặng hơn cọp ở phía Nam. Con đực nặng tới 235kg. Indian Government’s National Tiger Conservation đã kiểm tra với con số dưới 2.000 cọp hoang dã.

2- Cọp Đông Dương ( Indochinese Tigers ) còn gọi là Corbett’s Tigers ( Panthera tigris Corbetti )

Lọai nầy được tìm thấy ở Combodia, China, Laos, Burma, Thailand và Việt Nam, tầm vóc nhỏ và đen hơn cọp Bengal, con đực cân nặng 150-190kg (330-420lb), con cái nhỏ hơn, chỉ nặng 110-140kg (242-308lb). Môi trường sống của chúng là vùng rừng và đồi núi. Ước lượng có khoảng 1.200 tới 1.800 cọp Đông Dương với chỉ vài trăm cọp hoang dã. Số cọp hiện tại nằm trong tình trạng nguy hiểm vì bị người săn trộm cũng như hậu quả sự săn trộm các lòai động vật khác như nai, heo rừng.. Chúng mất môi trường sống và sự truyền giống. Ở Việt Nam, 3/4 số cọp bị giết để cung ứng cho kho dự trữ dược khoa của Trung Quốc.

3- Cọp Malayan ( Panthera tigris Jackson )

Cọp nầy được tìm thấy ở bán đảo Malay, sự phân loại không được quan tâm, mãi đến năm 2004 mới được thực hiên do Laboratory of Genomic Diversity Study – một bộ phận của The National Canser Intutute of The United States. Số cọp hiện tại có khoảng 600- 800 con trong vùng hoang dã, đứng thứ 3 sau cọp Bengal và cọp Indochinese. Loại cọp nầy nhỏ hơn cọp ở lục địa, đứng hàng thứ 2 trong loài cọp nhỏ hiện hữu, con đực trung bình nặng 120kg, con cái khoảng 100kg. Cọp Malayan là thần tượng của đất nước Malay. Hình cọp xuất hiện trên áo, trên vũ khí , trên phù hiệu của các hội quán..

4- Cọp Sumatran ( Penthera tigris sumatrae )

Cọp nầy chỉ được tìm thấy ở đảo Sumatra của Indonesia, nhỏ nhứt trong các loài cọp, con đực nặng khoảng 100-140kg ( 220-308lb ), con cái nặng 75-110kg ( 154-242lb ). Cơ thể của chúng thích nghi với rừng rậm và con mồi cở nhỏ. Số cọp hoang dã ước lượng từ 400 tới 500 con trong Công Viên Quốc Gia của hải đảo. Cuộc thí nghiệm của Di Truyền Học đã khám phá ra chúng phát triển trong một loài riêng biệt, nếu chúng không đi đến tuyệt chủng. Từ đó dẫn đến đề nghị cọp Sumatran nên được ưu tiên bảo tồn. Môi trường sống bị tàn phá là mối đe dọa cho số cọp hiện tại, 66 con được ghi nhận là bị giết trong năm 1998-2000, chiếm gần 20% tổng số cọp trên đảo.

5- Cọp Siberian ( Panthera tigris altaica )

Loại nầy được biết như cọp Amur, Machurian, altaic, Korean hay cọp ở phía Bắc China. Chúng bị giới hạn trong vùng Amur- Ussuri của Primorsky Krai và Khabarovsk Krai ở viễn đông của Siberia. Nơi đó, chúng được bảo vệ và được coi như loại cọp lớn nhứt với đầu và mình dài 190-230cm, đuôi 60-110cm, con đực cân nặng trung bình 227kg ( 500lb ). Cọp Amur nổi tiếng về bộ da dày của nó, màu vàng lợt, ít sọc hơn. Cọp Siberian hoang dã cân nặng nhứt là 380kg. Một con cọp 6 tháng tuổi của loại nầy to bằng con báo trưởng thành. Do sự kiểm tra trong 2 năm 1996 và 2005, người ta tìm thấy 450-500 cọp Amur.

6- Cọp ở phía Nam Trung Quốc- South China Tigers ( Panthera tigris amoyensis )

Cọp nầy được biết như cọp Amoy hay cọp Xiamen. Chúng là loại gây nguy hiểm trong 10 giống vật gây nguy hiểm trên thế giới. Chiều dài của nó từ 2,2 tới 2,6m ( 87-100inches ) cho cả con đực và con cái. Cọp đực cân nặng 127-177kg ( 220-390lb )

Từ năm 1983 tới 2007, người ta không thấy cọp South China nữa. Năm 1977 chính phủ Trung Quốc cấm săn cọp, nhưng đã muộn màng vì loài nầy đang ở nguy cơ tuyệt chủng. Có 59 cọp South China được nuôi giữ, nhưng được ghi nhận đã giảm hết 6 con. Vì vậy người ta yêu cầu bảo tồn loại cọp nầy và họ đã nuôi dưỡng để tăng giống và trả chúng về môi trường hoang dã.

B- NHỮNG LOẠI CỌP ĐÃ BỊ DIỆT CHỦNG


1- Cọp Balinese ( Panthera tigris balica )

Loại cọp nầy bị hạn chế ở đảo Bali. Chúng là loại cọp nhỏ nhứt trong các lại cọp, con đực cân nặng 90-100kg, con cái 65-80kg. Chúng bị săn bắn đến tuyệt chủng. Con cọp Balineses cuối cùng bị giết ở Sumbar Kima, phía Tây Bali ngày 27 tháng 9 năm 1937. Đó là 1 con cọp cái.

2- Cọp Javan ( Panthera tigris sondaica )

Loại cọp nầy bị hạn chế ở đảo Java của Indonesia. Hình như chúng bị diệt chủng khoảng năm 1980 vì môi trường sống bị tàn phá và bị săn bắn, nhưng sự tuyệt chủng có thể đến tột cùng từ năm 1950 có hơn. Cọp Java đực cân nặng 100-141kg, con cái cân nặng 75-115kg. Chúng là một trong những loài cọp nhỏ giống cọp Sumatran.

3- Cọp Caspian ( Penthera tigris virgata)

Cọp nầy được biết như cọp Persian hay cọp Turanian, được tìm thấy ở Iran, Irag, Afghanistan, Turkey, Mongolia, Kazakhastan, Caucasus, Tajikistan, Turmenistan và Uzbekistan. Chúng bị tuyệt chủng sau năm 1950. Nghiên cứu Di Truyền Học năm 2009 đã cho biết loại cọp nầy lớn như cọp Siberian.

III- NGUỒN GỐC VÀ NÉT ĐẶC TRƯNG THÂN THỂ


A- NGUỒN GỐC


Loại cọp lâu đời nhứt còn lại, giống mèo, gọi là Panthera Palaeosineusis được tìm thấy ở Trung Quốc và Java. Loài nầy đã sống cách nay 2 triệu năm, bắt đầu ở Pleistorcene, có thân hình nhỏ hơn cọp ngày nay. Xương cọp hóa thạch được tìm thấy ở Java, theo khoa học nghiên cứu thì chúng đã sống từ 1,6 đến 1,8 triệu năm về trước. Vật hóa thạch rõ rệt nầy cũng được khám phá ở Trung Quốc và Sumatra. Một phân loài gọi là cọp Trini ( Penthera tigris trinilensis ) đã sống 1,2 triệu năm cách nay mà xương hóa thạch được tìm thấy ở Trini ( Java ).

Cọp trước tiên đến Ấn Độ và vùng Bắc Á rồi đến Pleitorcene, đến phía Đông Beringia, Japan và Sakhalin. Xương cọp hóa thạch được tìm thấy ở Nhật Bản chứng tỏ rằng cọp đã sống ở đó, giống như loại cọp sống sót ở hải đảo, nhỏ hơn cọp ở lục địa. Cọp cũng đã sống ở Berneo và đảo Palawan của Philippine.

B- ĐẶC TRƯNG THÂN THỂ


Nét đặc thù của cọp là bộ lông từ màu rỉ sét hơi đỏ đến rỉ sét màu nâu, một chút màu trắng ở giữa và vùng bụng, vành tua trắng chung quanh mặt và sọc biến đổi từ màu nâu hay xám đến đen tuyền. Sự dày đặc của những sọc trên thân cọp thì khác nhau giữa các loại, nhưng đa số cọp có trên 100 sọc. Mô hình của những sọc có tính duy nhứt cho mỗi con vật. Vì thế, nó xác định được sự cá biệt. Những sọc nầy để cọp ngụy trang giữa bóng mát loang lổ và cỏ cao trong môi trường mà chúng rình mồi. Giống như mèo lớn khác, cọp có một đốm trắng phía sau tai của chúng.

Cọp có chân và vai rất mạnh như sư tử, có khã năng quật nã con mồi nặng hơn nó. Một con cọp đực Siberian ( Panthera tigris altaica ) có thể với tới 3,5m và cân nặng 306kg.

IV- SỰ LAI GIỐNG CỦA CỌP


Sự lai giống giữa loài mèo lớn ( Big cats ) bao gồm loài cọp, tạo một khái niệm đầu tiên trong thế kỷ 19 khi những vườn bách thú theo đuổi một cách thích thú, đặc biệt tạo nên những con vật kỳ quái để tăng thêm thu nhập tài chính. Sư tử được nuôi chung với cọp, đa số là cọp Amur và cọp Bengal để tạo ra con vật lai giống tên là Ligers và Tigons. Như thế, những con vật lai một lần được nuôi trong những vườn thú. Nhưng ngày nay, người ta đã ngã lòng vì tầm quan trọng của sự duy trì các loài và phân loài của cọp. Sự lai giống nầy còn ở những vườn thú Trung Quốc để tạo ra bầy thú riêng biệt.

Những con Liger được lai giống giữa sư tử và cọp cái. Chúng được chia đặc tính với cha mẹ chúng ( Đốm và sọc trên nền lông màu hung ). Liger đực trông có vẽ cằn cỗi, liger cái trông nở nang hơn. Khoảng 50% con đực có bờm, nhưng bờm ngắn chỉ bằng phân nửa bờm của sư tử chính tông. Ligers có chiều dài từ 10-12feet và có thể cân nặng đến 800-1.000lb hay hơn nữa.

Con Tigon thì nhỏ hơn, được lai giống giữa sư tử cái và cọp đực.

V- SỰ KHÁC NHAU VỀ MÀU LÔNG


A-CỌP TRẮNG (WHITE TIGERS )


Nhiều cuộc khởi đầu, người ta cho cọp trắng và cọp màu cam giao phối trong sự cố gắng vượt qua khuyết điểm của kết quả. Sự gây giống để có được cọp trắng là sự thật nhưng lại bị có khuyết điểm về thân thể của cọp con như bị nứt vòm miệng, bị vẹo xương sống và bị lác mắt. Sức khỏe và tuổi thọ của cọp trắng không bằng cọp màu cam. Người ta ghi nhận cọp trắng được tạo ra trong thế kỷ 19. Chúng chỉ có thể xuất hiện khi cha mẹ chúng lãnh nhận sự di truyền hiếm hoi được tìm thấy trong loài cọp trắng. Sự di truyền ấy chỉ xảy ra 1 trong 10.000 lần sinh sản. Cọp trắng không phải là phân loài riêng rẻ, nhưng chỉ khác biệt màu lông. Chúng được tìm thấy trong vùng hoang dã là cọp Bengal ( Cọp trắng được nuôi dưỡng phần ít là cọp Bengal ) Thường thường người ta nghĩ rằng sự suy thoái tính di truyền để cấu tạo màu trắng có thể chỉ được mang bởi cọp Bengal, mặc dù lý do đó không biết được.

B- CỌP CÓ VÂN MÀU VÀNG ( GOLDEN TABBY TIGERS )


Sự suy thoái tính di tryền có thể tạo ra loài cọp với bộ lông có vân màu vàng vô dụng. Lông nó màu vàng lợt, đôi khi như màu quả dâu. Chân có sọc màu cam mờ nhạt. Bộ lông dày hơn bình thường. Có rất ít cọp vân vàng được nuôi giữ, tất cả khoảng 30 con. Giống như cọp trắng, cọp vân vàng được nuôi giữ có ít cọp Bengal. Một số cọp vân vàng được gọi là cọp “dị hợp tử” mang tính di truyền của cọp trắng và cọp vân màu vàng, có khuynh hướng to hơn cọp Bengal bình thường.

Cũng có báo cáo về cọp xanh ( Bue tigers ) hay cọp màu xám đen, cọp Maltese, cọp đen, nhưng đó là giả sử.

(... còn tiếp ...)