Thi Cử Thời Học Chữ Nho

Nam Sơn Trần Văn Chi

Ngày xưa, qua con đường thi cử, nhà vua chọn những người tài đức để giúp vua trị nước. Sĩ tử lúc mới đầu là con cái nhà quý tộc, sau đó thứ dân ai ai cũng có quyền ứng thí. Người đi học ai cũng mong có ngày đỗ đạt, để có cơ hội góp phần vào việc chung của đất nước. Cũng có những người thi đậu nhưng không chịu ra làm quan vì nhận thấy nhà vua không xứng đáng. Có những người sau thời gian tham gia vào quan trường, tỏ ra ngao ngán bèn rút lui về nhà làm nghề dạy học hoặc bốc thuốc giúp dân.

Thời Bắc thuộc, các trường học ở nước mình bấy giờ cốt dành cho con cháu quan Tàu và một số quan người mình theo chúng. Đến thời kỳ nhà Ngô, Đinh, Tiền Lê từ năm 939 đến 1009, nước mình gọi là Tự Chủ nhưng không lúc nào được yên trước áp lực của Tàu, nên nhà vua chưa có điều kiện tổ chức thi cử chọn người ra giúp nước.

Tới đầu nhà Lý với vua Lý Thái Thổ (1010-1028), đạo Phật lúc đó là quốc giáo, việc học chỉ tổ chức trong phạm vi nhà chùa, thời kỳ nầy chưa có tổ chức thi cử tuyển chọn nhân tài. Tới thời vua Lý Thánh Tôn (1054-1072) việc học mở rộng ra trong dân gian và Nho giáo được xem trọng.

Thi cử nước mình có khi nào?


Thi cử/khoa cử ở nước mình bắt đầu từ năm 1075 khi vua Lý Nhân Tôn (1072-1128) cho mở khoa thi Nho học đầu tiên gọi là Khoa Tam Trường.

Người đậu năm nầy là Lê Văn Thịnh. Năm sau, 1076, nhà Vua cho lập trường Quốc Tử Giám để dạy cho con cái của nhà vua, con cái hoàng thân và con cái của quan lại. Sau đó triều đình mở 5 khoa thi nữa vào các năm 1086, 1152, 1165, 1185, 1195.

Tới thời nhà Trần (1225- 1400) việc học hành được mở mang hơn và tổ chức thi cử cũng hoàn chỉnh, được xem như kiểu mẫu cho các đời sau.

Thi Hương do vua Trần Thuận Tôn đặt ra năm 1396, là khoa thi chọn lấy Cử Nhân. Những người chấm đậu phải qua 4 trường:


* trường thứ nhứt thi ám tả;

* trường thứ nhì thi kinh nghĩa thơ phú;

* trường thứ ba thi chiếu, chế, biểu;

* trường thứ tư thi văn sách.


Theo qui định lúc nầy, cứ 5 năm tổ chức khoa Thi Hương, tiếp theo năm sau tổ chức khoa Thi Hội.

Trước đó, vào năm 1232, vua Trần Thái Tôn đã có mở khoa thi Thái Học Sinh và đặt ra Tam giáp; nghĩa là chia những người thi đậu ra ba hạng: Đệ Nhứt giáp, Đệ Nhị giáp và Đệ Tam giáp.

Đến năm 1247, chính nhà vua đặt thêm Tam Khôi: lấy 3 người đậu đầu trong Đệ Nhứt Giáp gọi tên là: Trạng Nguyên (trùm đầu), Bảng Nhãn (mắt bảng) và Thám Hoa (thăm hoa). Lúc nầy chưa gọi là Tiến sĩ.

Năm 1374 vua Trần Duệ Tôn mở khoa Thi Đình, thi ở sân Vua, để lấy Tiến sĩ.

Tên “ tiến sĩ” ở nước mình có từ đó.

Tiếp theo, thời Nhà Lê người đậu Thi Hương, 4 trường, gọi là Hương Cống tức Cử nhân, ai chỉ đậu có 3 trường gọi là Dinh đồ hay là Tú Tài.

Người đậu thi Hội gọi là Tiến sĩ xuất thân, tiếp tục vào thi Đình do đích thân nhà vua ra đề.

Năm 1466, nhà Lê, có sáng kiến đặt ta Lệ xướng danh.


Nghĩa là những người thi đậuTiến sĩ được đọc tên, ban áo mão, đãi yến, vinh qui bái tổ về làng. Nhà Lê cũng đầu tiên định hàm cho người thi đậu Tiến sĩ: từ chánh-tòng lục phẩm đến chánh-tòng bát phẩm.

“Ngày xướng danh gọi là ngày truyền lô. Hôm đó bày nghi lễ đại triều ở đền Thái Hòa, các quan mặc đồ triều phục, chia ban đứng chầu phụng Hoàng thượng ra ngự điện. Rồi quan Khâm mạng tâu lại việc thi, quan Giám Thị thì triệu các tân khoa tiến sĩ vào nhà công văn, phụng mệnh vua mà ban thưởng mỗingười một bộ áo mũ. Các tiến sĩ quì lãnh, rồi quan Lễ bộ dẫn vào quì sắp hàng trước sân rồng, rồi quan Truyền Lô cầm sổ theo thứ tự mà xướng danh. Đâu đấy mới treo bảng ở trước lầu Phú Vân ba ngày.

Sau khi ra bảng, ban ăn yến tại dinh Lễ bộ và ban cho mỗi người một cành kim trâm. Sáng hôm ấy các quan trường và các tân khoa tiến sĩ mặc đồ triều phục, lễ vọng tạ ơn ban yến. Ăn yến đoạn, mỗi ông tân khoa phải dâng một bài biểu tạ ơn.

Quan Lễ bộ lại dẫn các quan Giám Thị và các ông tân khoa vào vườn Ngự uyển xem hoa, mỗi người đều mặc đồ triều phục, cỡi ngựa che lộng. Xem hoa xong thì ra từ cửa thành đông đi diễu xem các phố xá”. (Phong tục Việt Nam của Phan Kế Bính)


Đến thời nhà Nguyễn 1502-1945 việc tổ chức học hành thi cử phỏng theo nhà Lê. Có Quốc Tử Giám ở Huế (lúc đầu gọi là Nhà Quốc Học), ở huyện có Giáo Thụ, ở phủ có Huấn đạo, trông coi việc học, ở làng xã người dân tự lo lấy.

Thi Hương lúc nầy tổ chức theo lệ hằng 3 năm:


* người thi đậu qua 4 trường gọi là Cử Nhân,

* đậu 3 trường gọi là Tú Tài

* người qua 2 trường gọi là Nhị Trường,

* đậu 1 trường gọi la Nhất trường không có học vị.


Có những người đậu Tú Tài hai lần ( Tú Kép ), ba lần ( Tú mềm ) mà không đậu được Cử Nhân.

Cả nước mình bấy giờ có 7 trường thi Hương là Thừa Thiên, Bình Định, Gia Định, Nghệ An, Thanh Hóa, Nam Định và Hà Nội.

Sau khi đậu Cử Nhân, sĩ tử ra Huế Thi Hội. Nhà Nguyễn có lệ “Tứ bất lập” nên không có Trạng Nguyên, chỉ có Bảng Nhãn, Thám Hoa. “Tứ bất lập” là không lập Trạng Nguyên, không lập Hoàng hậu khi vua còn sống, không có Tể tướng (như Thủ Tướng ngày nay) và không phong Vương cho người trong hoàng tộc.

Lịch sử học hành và thi cử chữ Nho nước mình bắt đầu từ nhà Lý (1075) và chấm dứt năm 1919 thời vua Khải Định (1916-1925). Năm 1918, khoa Thi Hương cuối cùng tổ chức ở hai nơi là Nghệ An cho miền Bắc và ở Bình Định cho miền Trung.

Năm sau, 1919, khoa thi Hội cuối cùng tổ chức ở Huế, chấm dứt chế độ học và thi chữ Nho ở nước mình!

Việc tổ chức thi cử thời xưa


Muốn đi thi Hương, học trò ngày xưa phải trải qua kỳ thi Sát Hạch tại địa phương. Thông thường ở tỉnh, các quan Đốc Học lo tổ chức Sát Hạch mỗi năm một lần. Những người được chấm đậu gọi là Khóa Sinh. Đậu đầu/ hạng nhứt, kỳ Sát Hạch gọi lá Đầu Xứ, như trường hợp cụ Phan Bội Châu là Đầu Xứ tỉnh Nghệ An.

Khóa sinh muốn thi Hương phải nạp quyển cho quan Đốc học. Quyển không được có dấu riêng, ngừa thông đồng và gian lận. Khóa sinh còn phải làm tờ khai được Lý Trưởng xác nhận là ngườikhông thuộc thành phần cấm thi. Như là con của những người xướng ca, trộm cắp, làm giặc chống triều đình.

Những người trúng tuyển rồi, nếu sau nầy tìm thấy có phạm tội trên, dầu đậu tiến sĩ cũng bị truất và tùy theo mức độ mà xét phạt.

Thời Nhà Lê, các Lý Trưởng phải có mặt tại trước cửa Trường thi để nhận diện khóa sinh. Sau nầy tờ khai của thí sinh có dán hình, nên không cần Lý Trưởng nhận diện.

Quan Giám Học và Tổng Đốc ký tên đóng triện, lập danh sách thí sinh chuyển về Kinh. Thuở đó, năm ba tỉnh mới có trường thi Hương. Như Nam kỳ Lục tỉnh chỉ có trường thi Gia Định.

Nửa đêm gần sáng ngày thi, các quan mặc áo đai triều, ngồi trước cổng vào trưởng thi để làm chủ lễ điểm danh thí sinh vào trường. Có Quan kiểm xét không cho thí sinh mang sách, bài làm trước vào trường thi và có Lý trưởng nhận diện.

Triều đình tùy theo số lượng sĩ tử ở mỗi trường thi mà bổ số Khảo Quan vào Hội đồng thi ở từng trường.

Khảo Quan


Khảo quan có hai ban: Khảo sát và Giám Sát.

1.- Quan Khảo Sát


Quan Khảo Sát có Nội trường và Ngoại trường.

Nội trường gồm có Sơ khảo, Phúc khảo và Giám khảo.

Ngoại trường có Chủ khảo, Phó chủ khảo và Phân khảo.

Quan từ Phân khỏa trở lên phải là những người đỗ đạt cao, làm việc ở Kinh thành/trung ương phụ trách.

Quan Giám Khảo sau khi được triều đình cử, vua phê chuẩn phải cử hành lễ bái mạng. Sau đó đến bộ Lễ lãnh cờ khâm sai và biển phụng chỉ và họ được quan Giám Sát hộ tống đưa về nhà riêng, tại đây có thị vệ lính canh, cô lập không cho tiếp xúc bên ngoài.

Qua Sơ Khảo và Phúc Khảo được chọn người ở địa phương nhưng không được chấm thi ở tỉnh nhà. Người có gia đình đi thi nơi mình chấm thi, phải tự động làm giấy hồi tị/xin không đi chấm thi.

2.- Quan Giám Sát


Quan Giám Sát lo Giám thị quan trường, giám sát sĩ bên trong, theo dõi đội lính biền binh có ngựa voi tuần tra bên ngoài. Ai thấy có vi phạm mà không báo lên quan Chủ Khảo sẽ bị phạt.

Quan Đề tuyển lo việc rọc/ráp phách, kê danh sách người trúng tuyển và yết bảng. Chức việc nhỏ như Lai Phòng lo khám xét, làm thơ ký... thì do địa phương cử chọn người liêm khiết, thành phần những người ít chữ để tránh gian lận.

Quyển thi của thí sinh được rọc phách.


Bài thi chấm ba lần với 3 màu mực khác nhau. Sơ khảo chấm màu gạch, Phúc Khảo chấm màu xanh, Giám Khảo màu hồng. Mỗi người chấm phải đề tên, chức vụ và ký tên trên mặt quyển.

Nội trường chấm bài xong phải đưa sang Ngoại trường chấm lại bằng mực màu son. Riêng quan Chánh và Phó Chủ Khảo phải chấm lại những bài đã trúng tuyển. Quan Phân khảo chấm lai những bài bị đánh rớt coi có ai đáng vớt để trình lên Chánh chủ Khảo. Chữ đẹp cũng được cứu xét. Chấm xong đưa sang Đề tuyển ráp phách.

Sau mỗi kỳ thi Quan Chủ Khảo và Giám Sát phải làm tờ trình cùng danh sách thí sinh trúng tuyển và thí sinh rớt, gởi tất cả về Kinh để duyệt lại.

***

Tính từ khóa thi đầu tiên 1075 đời vua Lý Nhân Tôn đến khóa thi cuối cùng vào đời vua Khải Định năm 1919, có tất cả 185 khóa thi. Có 2,898 người đậu đại khoa, trong đó có 46 Trạng Nguyên, 48 Bảng Nhãn, 76 Thám Hoa, 2462 Tiến Sĩ, 266 Phó Bảng (chưa tính 5 vị thủ khoa đời Lý và đầu đời Trần chưa gọi là Tiến Sĩ).

Nền giáo dục ở nước mình thời xưa chịu ảnh hưởng Trung Hoa, nặng văn chương hơn khoa học, khắt khe, hạn chế sáng kiến và sự phát triển con người. Tuy nhiên ai cũng phải công nhận rằng thi cử thời xưa rất nghiêm minh và công bằng.

Bậc Khoa bảng bấy giờ là những người đã cống hiến to lớn trí tuệ, tài năng vào công cuộc giữ nước và dựng nước. Có nhiều người phải hi sinh mạng sống của mình.

Đó là Hiền tài, là Nguyên khí của đất nước.

Nền giáo dục chữ Nho ấy đã tạo nên con người Việt Nam chúng ta biết làm bổn phận đối với nước, biết sống đạo nghĩa với gia đình, cha mẹ, bè bạn và chòm xóm.

Thi cử nước mình bây giờ ra sao?...